1. Tiến sĩ George Weigel - Giữ gìn nền Cộng hòa: Suy ngẫm nhân kỷ niệm 250 năm ngày thành lập.
Tiến sĩ George Weigel là thành viên cao cấp của Trung tâm Đạo đức và Chính sách Công cộng Washington, và là người viết tiểu sử Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II. Ông vừa có bài viết nhan đề “Keeping a Republic: A 250th Birthday Meditation”, nghĩa là “Giữ gìn nền Cộng hòa: Suy ngẫm nhân kỷ niệm 250 năm ngày thành lập.”.
Nguyên bản tiếng Anh có thể xem tại đây. Dưới đây là bản dịch toàn văn sang Việt Ngữ.
Khi chúng ta kỷ niệm 500 năm ngày Quốc khánh vào ngày 4 tháng 7, chúng ta có thể suy ngẫm về câu trả lời của Benjamin Franklin dành cho Elizabeth Willing Powell, khi vị hiền triết già rời khỏi Hội nghị Lập hiến năm 1787 và người phụ nữ quý tộc Philadelphia hỏi: “Thưa Tiến sĩ Franklin, chúng ta có gì, một nền cộng hòa hay một chế độ quân chủ?” Franklin đã đáp lại một cách nổi tiếng rằng: “Một nền cộng hòa, nếu các bà có thể giữ gìn nó.” Câu trả lời ngắn gọn đó nhấn mạnh một thực tế cơ bản về Hợp chủng quốc Hoa Kỳ: rằng chúng ta là một cuộc thử nghiệm dân chủ về tự quản cộng hòa, và việc thử nghiệm này vẫn đang tiếp diễn. Và trong thực tế đó ẩn chứa một chân lý được ngụ ý, nếu không muốn nói là rõ ràng, trong Tuyên ngôn Độc lập: Cần một số lượng lớn người dân, sống theo những đức tính nhất định, để giữ cho cuộc thử nghiệm đi đúng hướng - để bộ máy chính trị của một nền cộng hòa dân chủ tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển cá nhân và tình đoàn kết xã hội.
Coi nền cộng hòa của chúng ta là điều hiển nhiên chắc chắn sẽ dẫn đến việc đánh mất nó vào tay một hình thức độc tài nào đó. Nếu muốn giữ gìn nó, chúng ta phải nỗ lực. Và điều đó đòi hỏi sự hy sinh. Vì vậy, khẩu hiệu ngắn gọn tại Đài tưởng niệm Cựu chiến binh Chiến tranh Triều Tiên trên Quảng trường Quốc gia — “Tự do không phải là nhưng không mà có” — không chỉ nói lên món nợ chúng ta dành cho những người đã hy sinh tối cao, từ Lexington đến các bãi biển Normandy và hồ Chosin cho đến ngày nay. Câu nói “Tự do không phải là nhưng không mà có” nhắc nhở chúng ta rằng mỗi công dân đều phải đối mặt với thách thức sống tự do một cách cao thượng, vì lợi ích chung, nếu muốn cuộc thử nghiệm đưa nước Mỹ đến thịnh vượng, thậm chí là để nước Mỹ tồn tại được.
Sáu mươi sáu năm sau khi xuất bản, cuốn sách “Chúng ta nắm giữ những chân lý này: Suy ngẫm Công Giáo về đề xuất của nước Mỹ” của John Courtney Murray vẫn là một phân tích sâu sắc, dựa trên lý thuyết chính trị Công Giáo kinh điển, về những yếu tố đã làm nên nước Mỹ. Trong cuốn sách đồ sộ đó, Cha Murray đã đi sâu vào nền tảng của việc thành lập nước Mỹ, một công trình mà ngài không chỉ quy cho triết gia Khai sáng thế kỷ XVII John Locke (không giống như Patrick Deneen và những người khác). Bằng cách đó, Murray đã khai quật những gốc rễ khái niệm sâu xa nhất, những ý tưởng nền tảng, cuối cùng sẽ là nền tảng của Tuyên ngôn Độc lập.
Ý tưởng đầu tiên là sự cai trị của Chúa trải rộng khắp các quốc gia cũng như cá nhân. Khi Chúa Giêsu phân biệt những điều thuộc về Chúa với những điều thuộc về Caesar, Ngài đang dạy rằng quyền lực của Caesar bị giới hạn. Do đó, gốc rễ sâu xa và vững chắc nhất của niềm tin Mỹ về chính phủ hạn chế và tự do tôn giáo là Mt 22:21, chứ không phải Hai Luận Thuyết về Chính phủ Dân sự của Locke. Những người theo chủ nghĩa toàn diện Công Giáo, những người theo chủ nghĩa hậu tự do và những người theo chủ nghĩa thế tục tiến bộ, xin hãy lưu ý.
Ý tưởng nền tảng thứ hai, vô cùng quan trọng đối với Tuyên ngôn Độc lập mà chúng ta đang kỷ niệm 50 năm ngày tuyên bố, là chúng ta là những tạo vật – không phải bụi sao đông đặc hay thuật toán biết đi – mà Đấng Tạo Hóa đã ban cho chúng ta khả năng trí tuệ, tinh thần và đạo đức để tự quản lý bản thân. Hãy lắng nghe chương đầu đầy cảm xúc của bản nhạc “Di chúc Tự do” của Randall Thompson, suy ngẫm về văn bản mang đậm tinh thần Jefferson (“Thiên Chúa, Đấng ban cho chúng ta sự sống, cũng đồng thời ban cho chúng ta tự do; bàn tay của vũ lực có thể hủy diệt nhưng không thể chia lìa chúng”), và dành vài khoảnh khắc trong ngày Quốc khánh 4 tháng 7 để suy ngẫm xem liệu những “bàn tay của vũ lực” khác có đang hoạt động trong quốc gia chúng ta ngày nay, đe dọa sự hủy diệt hay không. (Cá nhân tôi, nghĩ đến những lời dối trá thô tục của những kẻ ba hoa trên mạng xã hội và những người dẫn chương trình podcast bài Do Thái chính xác theo những thuật ngữ đó.)
Vì chúng ta có khả năng tự quản do Chúa ban cho, nên sự quản trị công bằng phải dựa trên sự đồng thuận của người dân: “Chúng ta, nhân dân” có quyền được những người cai trị lắng nghe ý kiến về các vấn đề liên quan đến lợi ích chung. Hơn nữa, “nhân dân” có trong mình bản năng công lý cần được nuôi dưỡng bởi một nền văn hóa đạo đức công cộng sôi động: Bầu không khí văn hóa mà chúng ta hít thở cần phản ánh những chân lý vốn có về con người mà chúng ta có thể biết được bằng lý trí (và, người Công Giáo sẽ nhấn mạnh, bằng mặc khải). Đó là hai ý tưởng nền tảng thứ ba và thứ tư tạo nên gốc rễ của cây tự do Mỹ.
Tóm lại, những chân lý được nêu rõ hoặc ngụ ý trong Tuyên ngôn Độc lập được gói gọn trong chân lý quan trọng này: Chỉ có một dân tộc đức hạnh mới có thể sống trong tự do sao cho các cá nhân phát triển mạnh mẽ trong một xã hội đoàn kết. Chỉ có một dân tộc đức hạnh mới có thể sống trong tự do sao cho tự do, khi bị tha hóa thành sự phóng túng, không làm tha hóa các thể chế tự do đến mức các thể chế đó sụp đổ thành chuyên chế.
Lời khẳng định mà các nhà lập quốc Hoa Kỳ đưa ra cách đây 250 năm không phải là chính phủ tự do là điều tất yếu. Lời khẳng định là chính phủ tự do là điều khả thi. Và như Tiến sĩ Franklin đã nhắc nhở bà Powell, khả năng đó sẽ được thử thách hết lần này đến lần khác. Chắc chắn nó đang được thử thách ngày nay. Vì vậy, khi chúng ta tạ ơn Chúa vì món quà là Hợp chủng quốc Hoa Kỳ, hãy nhắc nhở bản thân và lẫn nhau rằng tự do không phải là sự phóng túng và tự do không bao giờ là nhưng không mà có.
Source:First Things
2. Đức Giáo Hoàng gửi khoản tiền ban đầu 100.000 euro đến Venezuela bị động đất tàn phá.
Đức Giáo Hoàng Lêô XIV đã cho phép Văn phòng Bác ái Tòa Thánh thực hiện khoản quyên góp khẩn cấp ban đầu trị giá 100.000 euro để hỗ trợ các nạn nhân của hai trận động đất mạnh xảy ra ở Venezuela vào tối thứ Tư.
Việc viện trợ đang được phối hợp trực tiếp với Sứ thần Tòa Thánh tại Venezuela, Đức Tổng Giám Mục Alberto Ortega Martín, và Đức Tổng Giám Mục Caracas, Raúl Biord Castillo. Tòa Thánh nhấn mạnh rằng đây chỉ là bước đầu tiên trong một phản ứng sẽ thích ứng với những nhu cầu đang thay đổi được xác định bởi Giáo hội địa phương.
Các trận động đất, có cường độ từ 7,2 đến 7,5 độ richter, đã gây ra sự tàn phá trên quy mô lớn, đặc biệt là ở bang ven biển La Guaira, phía bắc thủ đô. Tính đến thứ Năm, ít nhất 164 người đã được xác nhận thiệt mạng và gần 1.000 người bị thương, và con số thương vong dự kiến sẽ tăng lên đáng kể khi lực lượng cấp cứu tiếp tục tìm kiếm trong các tòa nhà bị sập. Hơn 20 dư chấn đã làm rung chuyển khu vực, với những dư chấn có thể cảm nhận được ở tận Colombia.
Sân bay quốc tế Simón Bolívar ở Caracas vẫn đóng cửa trong khi các cuộc đánh giá cấu trúc đang được tiến hành đối với cơ sở hạ tầng trọng yếu. Quyền Tổng thống Delcy Rodríguez đã tuyên bố tình trạng thảm họa quốc gia, mô tả La Guaira là “vùng thảm họa”. Bộ trưởng Nội vụ Diosdado Cabello đã kêu gọi người dân ở ngoài trời và tránh các công trình bị hư hại.
Thiệt hại về người đang ngày càng gia tăng tại một quốc gia vốn đã phải gánh chịu nhiều năm khó khăn kinh tế và căng thẳng chính trị. Các đội cấp cứu đang chạy đua với thời gian tại hàng loạt tòa nhà bị sập, hy vọng tìm thấy người sống sót dưới đống đổ nát.
Tác động đến con người đặc biệt nghiêm trọng ở các khu vực ven biển và đô thị đông dân cư. Truyền thông địa phương đưa tin về cảnh tượng các gia đình tìm kiếm người thân bị mắc kẹt dưới đống đổ nát, trong khi lực lượng cấp cứu phải vật lộn để tiếp cận một số khu dân cư bị ảnh hưởng nặng nề nhất.
Sự tàn phá cũng đã ảnh hưởng đến cơ sở hạ tầng của Giáo hội. Nhà thờ chính tòa Caracas và một số nhà thờ giáo xứ đã bị hư hại về cấu trúc, cũng như các chủng viện và các tòa nhà tôn giáo khác.
Bất chấp những khó khăn này, các cộng đồng Công Giáo trên khắp Venezuela đã nhanh chóng ứng phó, mở cửa các hội trường giáo xứ làm nơi trú ẩn tạm thời và huy động mạng lưới Caritas để hỗ trợ thiết thực. Các tòa nhà giáo xứ đã được mở cửa để làm nơi trú ẩn cho các gia đình bị mất nhà cửa, và các mạng lưới Caritas địa phương đang tổ chức phân phối khẩn cấp thực phẩm, nước uống và thiết bị y tế. Tại hiện trường, các linh mục và tình nguyện viên giáo dân tiếp tục cung cấp sự chăm sóc mục vụ và hỗ trợ vật chất cho những người đã mất nhà cửa và người thân yêu.
Sự đóng góp của chính Đức Giáo Hoàng là một cử chỉ thể hiện sự quan tâm đầy tình phụ tử đối với các nạn nhân: một phản ứng nhân đạo nhanh chóng được điều phối thông qua giám mục đoàn địa phương. Các nguồn tin từ Vatican cho biết thêm rằng viện trợ tiếp theo sẽ được điều chỉnh dựa trên các đánh giá chi tiết từ thực địa, bảo đảm rằng viện trợ đến được với những người dễ bị tổn thương nhất một cách có mục tiêu và hiệu quả.
Các giám mục Venezuela đã kêu gọi cầu nguyện và sự đoàn kết quốc tế khi đất nước đối mặt với cuộc khủng hoảng mới này. Trận động đất xảy ra vào thời điểm đặc biệt khó khăn đối với một quốc gia đã chứng kiến hàng triệu người dân di cư trong những năm gần đây giữa những thách thức kinh tế và xã hội, và – gần đây hơn – chiến tranh. Thảm họa này đã làm trầm trọng thêm những điểm yếu hiện có, đặc biệt là ở các cộng đồng nghèo và ven biển nơi cơ sở hạ tầng vốn đã chịu nhiều áp lực.
Các đội cấp cứu quốc tế từ khắp Mỹ Châu và các khu vực khác đang đến để hỗ trợ nỗ lực cấp cứu địa phương. Các kỹ sư đang đánh giá độ ổn định của các tòa nhà và cơ sở hạ tầng trọng yếu trong khi công tác tìm kiếm người sống sót vẫn tiếp tục. Quy mô toàn diện của sự tàn phá – và nhu cầu tái thiết lâu dài – vẫn đang được làm rõ.
Đức Giáo Hoàng Lêô XIV đang theo dõi sát sao tình hình, và quyết định nhanh chóng của ngài trong việc giải ngân quỹ thông qua Tòa Thánh cho thấy cam kết về lòng bác ái thiết thực trong những thời điểm bi kịch quốc gia. Khi các hoạt động cấp cứu và phục hồi đang diễn ra, các tổ chức Công Giáo trên toàn thế giới đang theo dõi diễn biến và chuẩn bị thêm sự hỗ trợ.
Source:Catholic Herald
3. SSPX bất chấp Đức Giáo Hoàng Lêô bằng việc bổ nhiệm bốn giám mục mới.
Hôm Thứ Tư, 01 Tháng Bẩy, bốn vị giám mục mới đã được tấn phong cho Huynh Đoàn Piô X, trái với ý muốn trực tiếp của Đức Giáo Hoàng Lêô XIV, trong một hành động mà Tòa Thánh đã cảnh báo sẽ phải chịu hình phạt vạ tuyệt thông tự động (latae sententiae excommunication).
Trước sự chứng kiến của hơn 16.000 người tại chủng viện của Huynh Đoàn Piô X ở Écône, Giám mục Alfonso de Galarreta đã phong chức cho các linh mục được chọn lựa kỹ lưỡng để trở thành các giám mục tiếp tục sứ vụ bí tích của SSPX trong nhiều thập niên tới. Thể hiện kế hoạch dài hạn của Huynh Đoàn đối với các lễ phong chức, vị giám mục trẻ nhất trong bốn người mới được phong chức chỉ mới 36 tuổi.
Giám mục Pascal Schreiber, Giám mục Michael Goldade, Giám mục Michel Poinsinet de Sivry và Giám mục Marc Hanappier nay cùng với Giám mục Alfonso de Galarreta và Giám mục Bernard Fellay tạo thành sáu giám mục của Huynh Đoàn.
Theo SSPX, tên và thông tin về các giám mục mới đã được trình lên Đức Giáo Hoàng Lêô, xin ngài chấp thuận, đồng thời nêu rõ cho ngài “bối cảnh rất đặc biệt và ngoại lệ của các lễ tấn phong giám mục này”.
“Các lễ tấn phong này không hề cấu thành sự phủ nhận, bác bỏ, hay thách thức quyền tài phán tối cao, toàn diện và trực tiếp của Đại diện Chúa Kitô đối với Giáo hội hoàn vũ,” Huynh Đoàn cho biết.
Cha Davide Pagliarani, Bề trên Tổng quyền của SSPX, phát biểu trong bài giảng của mình rằng buổi lễ là một buổi lễ “vui mừng và hy vọng”. Lý do cho cảm xúc ấy là bởi vì “năm 1988, những người lên án SSPX tuyên bố rằng Huynh Đoàn sẽ biến mất”, nhưng sự phát triển không ngừng của Huynh Đoàn đã chứng tỏ “Chúa không bao giờ bỏ rơi chúng ta và những lễ cung hiến này càng chứng minh điều đó hơn nữa”, Cha Pagliarani nhận định.
Do số lượng giáo sĩ tham dự đông đảo, và nhờ một sự gián đoạn ngắn do giông bão, buổi lễ thánh hiến kéo dài hơn năm giờ đồng hồ. Công tác chuẩn bị cho sự kiện đã được tiến hành trong nhiều tháng, và các buổi lễ thánh hiến đã thu hút sự quan tâm rất lớn từ cả giới truyền thông Công Giáo và thế tục.
Buổi lễ diễn ra 38 năm sau khi Đức Tổng Giám Mục Marcel Lefebvre phong chức cho bốn giám mục tại cùng một địa điểm ở Écône, cũng không có sự chấp thuận hay ủy quyền của Tòa Thánh. Đó là một hành động mà Tòa Thánh tuyên bố là ly giáo và dẫn đến việc các giám mục liên quan bị vạ tuyệt thông tự động.
Để bảo vệ các lễ tấn phong năm 1988 và 2026, cũng như sự cần thiết các giám mục tiếp tục phong chức linh mục để cử hành các bí tích theo nghi thức truyền thống, SSPX đã viện dẫn “tình trạng cấp thiết”, lập luận rằng tình hình hiện nay “tồi tệ hơn nhiều” so với năm 1988 vì “các quyết định của Đức Giáo Hoàng Phanxicô là thảm họa”.
Bên cạnh vẻ uy nghiêm của nghi lễ cổ xưa, phần lớn sự chú ý đương nhiên tập trung vào phản ứng của Vatican trước động thái của Huynh Đoàn.
Bộ Giáo luật hiện hành, ban hành năm 1983, quy định rằng – trong trường hợp không có sắc lệnh của Đức Giáo Hoàng – giám mục chủ trì lễ tấn phong và những người được tấn phong “phải chịu án phạt vạ tuyệt thông tiền kết (latae sententiae) mà chỉ có Tòa Thánh mới có thể giải vạ”. Ngược lại, Bộ Giáo luật trước đó năm 1917 quy định hình phạt nhẹ hơn là đình chỉ chức vụ đối với người chủ trì lễ tấn phong và những người được tấn phong “cho đến khi Tòa Thánh cho phép miễn giảm”.
Cũng như năm 1988, Đức Giáo Hoàng một lần nữa không ban sắc lệnh cho việc thánh hiến. Do đó, thay vì đọc to sắc lệnh của Đức Giáo Hoàng trong buổi lễ, công chứng viên phụng vụ đã đọc một tuyên bố có nội dung như sau: “Chính Giáo Hội Công Giáo Rôma, luôn trung thành với các truyền thống được thừa hưởng từ các tông đồ, trong những hoàn cảnh hoàn toàn đặc biệt, đòi hỏi chúng ta phải bảo đảm gìn giữ những truyền thống này, tức là kho tàng đức tin, và phải tìm mọi cách cần thiết để truyền đạt chúng một cách trung thực cho mọi người vì ơn cứu độ linh hồn của họ.” Từ Công đồng Vatican II cho đến nay, các nhà cầm quyền trong Giáo Hội đã bị chi phối bởi một tinh thần trái ngược với đức tin và đã hành động chống lại thánh truyền. Họ sẽ không còn chịu đựng được giáo lý đúng đắn nữa.” Chỉ 24 giờ trước đó, Đức Giáo Hoàng Lêô đã đích thân viết thư cho Huynh Đoàn yêu cầu họ hủy bỏ buổi lễ đã lên kế hoạch. “Tôi khẩn cầu và van xin các bạn bằng cả tấm lòng: xin hãy quay lại,” bức thư của Đức Lêô viết. “Tôi khuyên các bạn hãy cân nhắc kỹ lưỡng lợi ích thiêng liêng của các tín hữu, bởi vì hành động ly giáo mà các bạn sắp thực hiện sẽ tước đoạt khỏi họ việc lãnh nhận các Bí tích một cách hợp lệ và, trong một số trường hợp, thậm chí là có giá trị, mà họ yêu mến và tìm kiếm để được thánh hóa.”
Huynh Đoàn Thánh Gioan Tẩy giả đã tìm cách gặp Đức Giáo Hoàng Lêô từ tháng 8 năm 2025, nhưng khi các yêu cầu được diện kiến không được hồi đáp, họ đã thông báo vào ngày 2 tháng 2 về ngày 1 tháng 7 để tiến hành lễ tấn phong giám mục. Động thái này đã thúc đẩy phản ứng nhanh chóng từ Vatican, nhưng cuộc đối thoại giữa SSPX và Tòa Thánh đã đổ vỡ chỉ hơn hai tuần sau đó.
Cha Pagliarani viết vào ngày 19 tháng 2: “Tôi không thể chấp nhận quan điểm và mục tiêu mà Bộ đưa ra để nối lại đối thoại trong tình hình hiện tại, cũng như việc hoãn ngày 1 tháng 7.”
Ngày 13 tháng 5, Hồng Y Victor Manuel Fernández – người chủ trì các cuộc gặp của Tòa Thánh với Huynh Đoàn – tuyên bố rằng các lễ cung hiến dự kiến sẽ “cấu thành ‘một hành vi ly giáo’ và ‘việc chính thức tuân theo sự ly giáo này cấu thành một tội trọng chống lại Thiên Chúa và dẫn đến việc bị vạ tuyệt thông theo luật Giáo hội’”.
Đáp lại, SSPX đã ban hành một Tuyên ngôn Đức tin mà Cha Pagliarani lúc đó nói rằng “dường như đối với chúng tôi là đáp ứng những điều tối thiểu cần thiết để hiệp thông với Giáo hội, và để thực sự tự gọi mình là người Công Giáo và, do đó, là con cái của Chúa”.
Trong bài giảng tại buổi lễ hôm thứ Tư, Cha Pagliarani đã bảo vệ các nghi thức thánh hiến, cho rằng đó là “những phương tiện đặc biệt phù hợp với nhu cầu của Giáo hội ngày nay”.
“Liệu chúng ta đang trong quá trình lựa chọn giữa đức tin và Giáo hội: để giữ vững đức tin, chúng ta có đang tách rời khỏi Giáo hội không? Đó là một sự lựa chọn sai lầm,” ngài khẳng định, nhằm đáp trả những lời chỉ trích. “Chúng ta thuộc về Giáo hội bởi sự tuyên xưng trọn vẹn đức tin của mình.”
Cha Pagliarani cũng cho rằng Tòa Thánh đang nói một “ngôn ngữ khác” với Huynh Đoàn, tuyên bố: “Chúng ta phải thừa nhận rằng hiện tại chúng ta đang nói hai ngôn ngữ khác nhau. Chúng ta nói ngôn ngữ của đức tin – chúng ta muốn có đức tin và nói một cách đơn giản thì nó không phức tạp đến vậy… Nhưng trước mặt chúng ta là một ngôn ngữ khác, một cấp độ khác, họ đang nói về những điều khác. Đó là ngôn ngữ của sự bao dung, của sự đồng hành, đối thoại – chứ không phải là đức tin. Chúng ta đồng hành cùng các linh hồn trong đức tin.” Kể từ khi các cuộc đàm phán đổ vỡ vào tháng Hai, dường như thư từ giữa Huynh Đoàn và Rôma chỉ giới hạn ở việc đưa ra những tuyên bố này chứ không phải là bất kỳ cuộc đối thoại hiệu quả hay tranh luận thần học nào.
Nhưng trong bức thư gửi cho Huynh Đoàn vào thứ Ba – và cuối cùng đã có một cuộc tiếp xúc cá nhân với Huynh Đoàn – Đức Giáo Hoàng Lêô tuyên bố rằng “Giáo Hội sẵn sàng cho một con đường đối thoại và hiểu biết mà Chúa Thánh Thần có thể làm cho khả thi và hiệu quả”.
Ngài cũng cảnh báo rằng “xé toạc chiếc áo không đường may của Chúa Kitô là một tội lỗi vô cùng nghiêm trọng”. Câu nói này của Đức Giáo Hoàng cho thấy mức độ nghiêm trọng của những hình phạt mà Vatican được tường trình đang chuẩn bị áp đặt.
Nhưng tâm trạng trong Huynh Đoàn, như Pagliarani đã nói, là niềm vui, với sự kiện tại Écône thực sự là một lễ kỷ niệm tấn phong các giám mục mới. Một số giáo dân tham dự Huynh Đoàn cũng nhiệt liệt hoan nghênh lễ tấn phong, trong khi những người khác lại than thở rằng SSPX vẫn ở trong tình trạng tương tự như năm 1988.
Mặc dù Vatican đã cảnh báo rằng các lễ tấn phong này sẽ dẫn đến hình phạt vạ tuyệt thông tự động, hay còn gọi là vạ tuyệt thông tự động (latae sententiae), nhưng người ta vẫn mong đợi một phản hồi chính thức từ Tòa Thánh. Thông tin từ Tòa Thánh cho thấy phản hồi đó sẽ được đưa ra trong những ngày tới.
Source:Catholic Herald