Ngày 25-02-2011
 
Phụng Vụ - Mục Vụ
Hãy ký thác đường đời cho Chúa
PM. Cao Huy Hoàng
08:33 25/02/2011
Suy niệm Lời Chúa CN 8 TN A

“Có người mẹ nào quên được đứa con yêu? Núi rộng sông dài bao la quá ôi tình mẹ yêu. Dù cho người mẹ ấy có quên con mình, Ta vẫn không quên bao giờ. Khắc tên con trong lòng bàn tay Ta, khắc tên con trong lòng bàn tay Ta”…

Lời Chúa trong sách Is 49,15 của bài đọc 1 hôm nay đã được Sr. Nhạc Sĩ Trầm Hương chuyển thành ca từ đan dệt trong một giai điệu mượt mà tình cảm có sức cuốn người nghe suy niệm về tình thương bao la của Thiên Chúa. Và hơn nữa, có sức thuyết phục người hát người nghe ký thác đường đời của mình trong lòng bàn tay của Thiên Chúa.

Tình thương của Thiên Chúa vượt xa hơn, vượt cao hơn tình thương của một người mẹ trần gian. Đó phải là một xác tín vững chắc của mỗi chúng ta, trên con đường đi tìm hạnh phúc thật. Xác tín ấy đòi hỏi chúng ta phải khiêm tốn đặt mình vào thân phận bé thơ. Một em bé tìm tựa nương trong vòng tay của Mẹ, để được bảo bọc bình an, được ấm nồng hạnh phúc. Bé không có trí khôn, không lý luận, không phân tích, không suy tư…nhưng bé được Chúa Thánh Thần hướng dẫn làm như thế. Chúng ta cũng vậy, bao lâu còn dùng trí khôn người lớn của mình để phân tích, so đo, tính toán, mà không khiêm tốn đặt mình dưới sự hướng dẫn khôn ngoan của Chúa Thánh Thần, thì khó lòng mà chấp nhận ký thác đường đời cho Chúa.

Bài Tin Mừng Mt 6, 24-34, Chúa Giêsu bảo chúng ta hãy xem chim trời, nhìn hoa cỏ mà học bài tin tưởng, ký thác ấy: “Hãy xem chim trời: chúng không gieo, không gặt, không thu tích vào kho; thế mà Cha anh em trên trời vẫn nuôi chúng. Anh em lại chẳng quý giá hơn chúng sao?” “Hãy ngắm xem hoa huệ ngoài đồng mọc lên thế nào mà rút ra bài học: chúng không làm lụng, không kéo sợi; thế mà, Thầy bảo cho anh em biết: ngay cả vua Sa-lô-môn, dù vinh hoa tột bậc, cũng không mặc đẹp bằng một bông hoa ấy”.

Vâng Chúa Thánh Thần của công cuộc sáng tạo vẫn tiếp tục khơi nguồn cho muôn vật cất tiếng ngợi khen vinh danh Thiên Chúa. Chim trời cứ mãi reo hát múa nhảy cho đời vui, cho vui đời. Hoa cỏ cứ dâng hương, khoe sắc cho đẹp đời, cho đời đẹp. Chúng không quá bận tâm chuyện mưu sinh, chuyện tích góp, chuyện phương tiện, chuyện sắc đẹp, chuyện đánh bóng, chuyện danh dự, chuyện tồn tại hay nay còn mai mất…., nhưng chúng chỉ biết mang lại niềm vui bình an thư thái cho mọi người.

Cuộc đời con người cũng ngắn ngủi như cuộc đời hoa cỏ, nhưng chưa chắc tốt và đẹp bằng hoa cỏ, nếu không biết đặt mình trong bàn tay quan phòng của Thiên Chúa, và nếu không biết thiết lập một cuộc sống cho vinh danh Thiên Chúa, và tìm được Nước Thiên Chúa. Có người, nếu một ngày không có hoa tươi trên bàn thờ, nơi bàn làm việc, trong phòng ăn, trong phòng ngủ… sẽ cảm thấy không vui, hoặc mất hẳn mọi nguồn cảm hứng. Hoặc một hôm nào đó, không nghe tiếng con dế rít trong góc bàn thờ, con se sẻ reo trên mái ngói, bỗng dưng giờ viếng Chúa như thiếu vắng một bản hợp xướng tuyệt vời. Có thể, đó là một thói quen tự nhiên, nhưng cũng có thể họ đang được Thánh Thần thúc đẩy chiêm ngưỡng vinh quang Chúa nơi các loài thụ tạo, và học nơi các loài thụ tạo bài học tín thác và sống cho vinh danh Thiên Chúa.

Khi đã ký thác đường đời cho Chúa, lòng con người nghe nhẹ nhàng khoan khoái, thanh thản đến mức độ cứ như một em bé đang đi, đứng, ngủ, nghỉ, ăn uống, vui đùa trong và trên bàn tay vĩ đại của Ngài. Sẽ không còn chỉ bận tâm đến chuyện lo ăn, lo mặc, lo kiếm tiền cất để, lo những chuyện đời, nhưng vẫn có chủ định, có thời gian dành cho Thiên Chúa, cho việc làm đạo đức, việc lành. Ấy là đã thực hiện lời Chúa “Trước hết hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa và đức công chính của Người, còn tất cả những thứ kia, Người sẽ thêm cho” vậy.

Cô M với tiệm cơm của mình giữa phố, vừa là chủ tiệm vừa là chủ bếp, tất bật từ sớm đến tối, nhưng có người vẫn thấy cô viếng nhà thờ đều đặn vào 3 giờ chiều, tham dự thánh lễ, tập hát, và hằng tháng lại thấy cô xuất hiện ở trường khuyết tật, nhà mồ côi, và nhà mấy ông bà già neo đơn trong xóm nghèo bên kia phố.

Nhiều tín hữu đã có những phút nhìn lại cuộc đời mình, mới nghiệm ra bàn tay Chúa thật kỳ diệu. Có người không dám nhận mình giỏi giang làm kinh tế, nhà cửa đơn sơ, cuộc sống tầm thường đạm bạc, không hơn ai cũng không kém lắm, mà con cái đứa nào cũng tốt nghiệp đại học, nên gia nên thất đàng hoàng, biết anh biết em biết ông bà cha mẹ, biết làng xóm thân thương và nhất là biết thờ phượng Chúa. Ôi còn nỗi vui nào bằng? Giàu có, tiền của dư đầy, nhà cao cửa rộng, điều kiện phương tiện thừa thải mới vui sao? Không có gì chắc chắn vui bằng việc ký thác đường đời cho Chúa.

Khi đã ký thác đường đời cho Chúa, Chúa còn muốn bảo chúng ta đừng bận tâm chuyện kiếm cho có, nhưng hãy bận tâm chuyện cho đi. Có người bảo không có thì lấy gì mà cho. Nhưng thiết tưởng, Chúa muốn chúng ta hiểu rằng chúng ta đang có tất cả, vì chúng ta đang có Chúa, đang có tình yêu thương của Chúa. Nghĩ rằng mình không có, là vì mình không nhận ra, hoặc là vì vẫn cho rằng cái có những thứ ở đời nầy là quan trọng, là cần thiết hơn cả. Có người tin Chúa thì vẫn tin, nhưng bị cuốn vào dòng xoáy của những quyến rủ phù du tiền bạc, nhan sắc, danh vọng, dần dần đi vào cõi mê cung của những ảo vọng.

Đáng mừng thay, một số tín hữu thời nay đang sống tinh thần phó thác theo linh đạo Phanxicô, Đaminh, hay Têrêxa Hài Đồng… có thể nói, linh đạo nào cũng triển khai lời dạy của Chúa Giêsu hôm nay: “đừng làm tôi hai chủ, không thể vừa làm tôi Thiên Chúa vừa làm tôi tiền bạc” và “Trước hết hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa và đức công chính của Người, còn tất cả những thứ kia, Người sẽ thêm cho” Đã có nhiều người tin tưởng chọn Chúa là tất cả, vừa làm việc kiếm sống, vừa tạ ơn Chúa và làm việc lành, không quá lệ thuộc ái ăn cái mặc, chỉ phụng sự một mình Chúa mà thôi, tất cả cho vinh danh Chúa và như thế là họ đã tìm được Nước Thiên Chúa ngay trên trần gian này.

Nhưng đáng tiếc, cũng còn quá nhiều người phải dành trọn thời gian cho việc làm ăn kinh tế mà không có được một phút tĩnh lặng tạ ơn Chúa và phó thác trong tay Ngài. Đáng tiếc hơn nữa khi có vài người đáng ra phải làm gương sống ký thác đường đời cho Chúa thì lại lao mình vào những chuyện kinh tế thêm rắc rối cuộc đời.

Một Cha giáo chủng viện xưa của tôi đã nói: làm linh mục, tu sĩ là ký thác trọn vẹn đời mình cho Chúa, để Chúa lo Chúa liệu, mà chuyên làm việc cho Nước Chúa, không nên vướng vào chuyện làm kinh tế, không nên làm kinh tế, vì sẽ đến một lúc ăn không ngon, ngủ không yên. Làm sao bán nhà thờ nhà xứ mà trả nợ. May ra thì chỉ bán được những gì mình sắm sửa do lợi nhuận kinh tế của mình tạo nên. Ấy vậy, mới xảy ra chuyện có người đang lo việc Chúa mà phải bán biệt thự, bán khách sạn, bán ghe, bán đất…. trả nợ và cuối cùng là bán xe đi bộ, mà vẫn chưa được bình an.

Tinh thần phó thác không kể là của thành phần nào người giàu hay của người nghèo, học thức hay thất học, nhưng là của Đức tin.

Cô BH ở tiểu bang Virgina có lần tâm sự: “Em đọc kinh phú dâng mỗi tối, sau đó, hôn chân Đức Mẹ Mổ Tim rồi ngủ. (Gọi là Đức Mẹ Mổ tim và bức tượng nầy em mua của Cha Trịnh Tuấn Hoàng trong bữa tiệc gây quỹ mổ tim). Một hôm đi làm về, không nhớ để lạc mất tiền trả lương cho thợ, 3000 USD, ở đâu. Tìm hoài không được. Em nói với Chúa: “Nhà mình không có ai, chỉ có con với Chúa. Chúa có lấy của con không? Con nghi lắm. Nhưng mà nếu Chúa cần, thì Chúa cũng phải cho con tìm được mà đưa cho Chúa xài chứ”. Rồi em hôn chân Đức Mẹ, đi ngủ, thật ngon. Tự nhiên 3g sáng, em bật dậy. Mang áo lạnh vào, đội mũ vào, cầm đèn pin, mở cửa, ra thùng rác trước nhà. Có ai thấy em giờ nầy lục lọi thùng rác, họ sẽ nghĩ là bà điên. Vâng, bà điên đã tìm lại được số tiền trong bịch rác gom ở phòng ngủ. Vào nhà tạ ơn Chúa. Ngủ lại. Sáng hôm sau, trên đường đi làm, bà điên ghé chỗ chuyển tiền, và chuyển về cho cha xứ của bà điên đang xây dựng một nhà nguyện cho người dân tộc ở gần GX. Bà điên em vui mừng trong lòng lắm. Chuyện nầy em chưa kể cho ai. Chúa biết em mà!”

Vâng, Ký thác đường đời cho Chúa và làm việc lành không vì vinh danh mình, nhưng vì vinh danh Chúa, hẳn là đức công chính, là phần thưởng và niềm vui cho mỗi tín hữu.

Thánh Phaolô nói “Chính Người sẽ đưa ra ánh sáng những gì ẩn khuất trong bóng tối, và phơi bày những ý định trong thâm tâm con người. Bấy giờ, mỗi người sẽ được Thiên Chúa khen thưởng đích đáng”(1Cor 4, 5)

Ai tín thác vào Chúa? Có thể người đời không nhận ra. Nhưng Chúa thấu suốt tấm lòng mỗi người, và ban thưởng cho mỗi người tùy theo mức độ tin tưởng và ký thác

Để kết, tôi xin trưng dẫn câu chuyện Bà cụ Anna Nguyễn 82 tuổi ở GX tôi: Bà bịnh ung thư, nhà thương trả về, mê man mấy ngày rồi. Các con ở xa đã về để chuẩn bị chia tay Mẹ. Rất buồn vì mẹ không tỉnh. Bỗng đêm ấy, sau giờ kinh, bà tỉnh lại, muốn nói chuyện với con cái. Bà kêu con trai cả lại. Sẵn micro của ban trợ liệt và cộng đoàn vừa đọc kinh xong, tôi để micro lại sát miệng bà. Bà thều thào:

“Mẹ không chăm sóc các con suốt đời được đâu. Nhưng hãy an tâm vì có Chúa luôn bảo bọc các con. Hãy giữ Chúa trong lòng. Đừng xua đuổi Chúa ra khỏi đời mình, để phải chuốc lấy những ngày đời đau khổ. Phải lo làm việc để có nhà ở, cơm ăn, áo mặc, nhưng trước tiên phải siêng năng xưng tội, rước lễ, làm việc lành, lánh việc dữ, thờ phượng Chúa trên hết, tìm Nước Chúa trước tiên. Mẹ không bỏ các con, nhưng việc gì đến phải đến. Xin Chúa chúc lành cho các con”.

Các con òa khóc. Cả cộng đoàn cũng khóc theo. Khóc vì cảm động tình thương yêu của một người Mẹ, nhưng còn hơn thế nữa, cảm động vì những lời trăn trối đầy niềm tin vào Chúa: “Hãy ký thác đường đời cho Chúa, làm lành lánh dữ, thờ phượng Chúa trên hết, tìm Nước Chúa trước tiên”.

Lạy Chúa, đồng tiền, chức quyền, danh vọng, thú vui…đang cuốn hút chúng con vào chỗ tôn thờ những thực tại chóng qua mà quên đi niềm hạnh phúc duy nhất của chúng con là được ký thác trọn vẹn đời mình trong bàn tay yêu thương quan phòng của Chúa. Nhờ Lời Chúa hôm nay, xin cho chúng con tin tưởng và xác tín rằng: “Duy nơi Thiên Chúa, linh hồn tôi được an vui”. (Tv 61, 6a)
 
Chuyện Phiếm Đạo Đời - suy tư từ Lời Chúa qua cuộc đời
Trần Ngọc Mười Hai
19:08 25/02/2011
Chuyện Phiếm Đạo Đời - suy tư qua cuộc sống

“Kẻ thù ta đâu có phải là người”

”Giết người đi thì ta ở với ai?”

(Phạm Duy – Kẻ Thù Ta)

(1Cr 6: 19 )

Ấy thế mà, các cụ Đạo nhà ta xưa kia vẫn cứ kể ra, những là ba thứ kẻ thù: ma quỷ, thế gian, và xác thịt. Ma và quỷ, dù có là kẻ thù dữ dằn nhất, đâu nào thấy. Còn thế gian, là bạn và tôi, sao là thù! Và hơn thế, nếu xác thịt là những thịt thà cùng xương xẩu của tôi và của bạn, mà là kẻ thù ư? Nếu vậy, tại sao các thánh lại cứ bảo đó là “Đền thờ Chúa Thánh Thần”?

Thôi thì, hôm nay, hỡi tôi và bạn, ta cứ thử đi một vòng phiếm sương sương đôi ba sợi để về với “đền thờ” và cái-gọi-là “kẻ thù thứ ba” xem sao. Và, nay thì mời bạn/mời tôi, ta hãy ngâm nga ba câu hát của nghệ sĩ già từng quả quyết, rất như sau:

”Kẻ thù ta tên nó là gian ác

Kẻ thù ta tên nó là vô lương

Tên nó là hận thù

Tên nó là một lũ ma (thế thì).”

(Phạm Duy – bđd)

Nếu thế thì, “kẻ thù ta” trước hết và trên hết, phải là “lũ ma” chứ? Nhưng, ma là gì? Là, thân xác ư? Là “đền thờ Chúa Thánh Thần” chăng? Là gì đi nữa, hãy cứ để đó, hạ hồi sẽ rõ. Nay, bạn và tôi, ta lại hát thêm đôi ba chữ rất “kẻ thù”, như định nghĩa của người nghệ sĩ trên, vẫn từng hát:

“Kẻ thù ta mang áo mầu chủ nghĩa

Kẻ thù ta mang lá bài tự do

Mang cái vỏ thật to

Mang cái rổ danh từ

Mang cái mầm chia rẽ chúng ta (thế thì).”

(Phạm Duy – bđd)

Vâng. Ba thù hoặc kẻ thù thứ ba, mà khi xưa các cụ cứ cho là thân xác, nó vẫn mang cái vỏ thật to. Lại dựa vào hai chữ “tự do”, nên tha hồ làm. Tha hồ, mà chăm sóc, để rồi biến nó thành thứ gì đó rất ghê gớm. Cũng đáng yêu và đáng sợ, như sự thường.

Về yêu thương những kẻ thù, rất thứ ba, cũng nên kể cho nhau nghe một truyện kể, như sau:

“Truyện rằng:

Tại trại xe điện ngầm Thủ Đô Hoa Thịnh Đốn vào buổi sáng tháng giêng lạnh lẽo năm 2007, một người đàn ông đàn liên tục 6 tấu khúc của Bach trên cây đàn vĩ cầm trong 45 phút. Ước chừng hơn 2000 người qua lại trạm xe điện ngầm trong khoảng thời gian đó và hầu hết những người ấy đều trên đường đi làm. Sau ba phút, một người đàn ông trung niên nhận ra là có người đang chơi nhạc. Ông ta chậm bước và ngừng chân trong vài giây rồi lại hối hả theo thời khắc biểu đã định sẵn.

Bốn phút sau, người đàn vĩ cầm nhận được đồng tiền đầu tiên: một phụ nữ vừa đi vừa liệng tiền vô cái nón mà không hề ngừng lại. Phút thứ sáu: một thanh niên trẻ dựa vào tường và lắng nghe tiếng đàn,sau đó liếc nhìn đồng hồ đeo nơi tay và bước đi. Phút thứ mười: một bé trai khoảng 3 tuổi đứng lại nhưng bị mẹ lôi đi vội vã. Cậu bé trì lại và nhìn người chơi đàn lần nữa. Dù bị mẹ kéo đi, cậu bé vẫn luôn ngoái đầu nhìn. Nhiều đứa bé khác cũng quay đầu nhìn như thế và không cha mẹ nào lại không nhanh chóng kéo con mình đi cả. Bốn mươi lăm phút đàn không ngừng, chỉ có 6 người thật sự dừng hẳn lại và lắng nghe trong một lúc. Khoảng 20 người cho tiền mà vẫn tiếp tục bước đi. Người chơi đàn nhận được tất cả là 32 đô la.

Sau một giờ, người đàn ông chấm dứt, thôi đàn và không gian trở nên im vắng. Không ai để ý. Không ai vỗ tay khen và cũng chẳng có ai lưu tâm. Nhưng không một ai biết điều này, người chơi đàn vĩ cầm đó là Joshua Bell, một cầm thủ lẫy lừng trên thế giới. Với cây đàn vĩ cầm trị giá trên 3 triệu rưỡi đô la, Joshua Bell đã đàn lên những tấu khúc tuyệt vời mà không ai có thể viết hay hơn được nữa. Hai ngày trước đây, Joshua Bell đã trình diễn ở Boston, nơi mà giá trung bình là 100 đô la một vé và nhạc viện bán sạch không còn dư một vé nào.

Đây là một câu truyện thật: việc Joshua Bell lặng lẽ chơi đàn tại trạm xe điện ngầm được báo Washington Post sắp xếp để xem cảm xúc con người trong xã hội như thế nào, họ nhận thức và lựa chọn ra sao…Câu hỏi được đặt ra là tại nơi chốn thông thường trong giờ giấc không thuận lợi cho lắm, liệu chúng ta có nhìn ra được tài năng với bối cảnh không ngờ, và liệu chúng ta có nhận thức được cái đẹp và ngưng lại để thưởng thức nó hay không ?

Có thể kết luận về chuyện này như sau: Nếu chúng ta không có thì giờ ngừng lại một chút để lắng nghe người nghệ sĩ lừng danh trên thế giới đàn những tấu khúc mà không ai có thể viết hay hơn được nữa trên một cây đàn có những âm thanh tuyệt vời nhất thì chúng ta sẽ còn mất mát và bỏ qua bao nhiêu thứ tốt đẹp khác nữa trên cõi đời này….

Có thể câu truyện ở trên, chưa nói hết đuợc ý nghĩa thân xác là đền thờ của Thiên Chúa”. Thì đây, đích thị lời thánh Phaolô, vẫn cứ quả quyết:

“Hay anh em lại chẳng biết rằng

thân xác anh em là Đền Thờ của Thánh Thần sao?

Mà Thánh Thần đang ngự trong anh em

là Thánh Thần chính Thiên Chúa đã ban cho anh em.”

(1Cr 6: 19)

Tiếp đến là một đề nghị, cũng từ thánh nhân rất Phaolô:

“Vậy anh em hãy tôn vinh Thiên Chúa nơi thân xác anh em..”

(1Cr 6: 20)

Với thánh nhân, thân xác là đền thờ, chuyện ấy quá rành rành. Với người đời, thân xác còn là cái gì đó để ta quan tâm mà đề cao, với trân trọng. Còn nhớ, lực sĩ người Việt khi xưa nổi tiếng với những bắp thịt cuồn cuộn. Với những “đường cong tuyệt mỹ” là Võ Thành Nhơn, từng khích lệ mọi người hãy chăm lo cho thân xác qua khẩu hiệu “Bắp thịt trước đã”. Tiếp đến, các nhà quảng cáo thương mại, lại đua nhau sáng chế ra thành ngữ nổi cộm như: “Dáng em khoẻ cần hơn cả”, “Tấm thân ngọc ngà là chính hồn em”, vv…khiến nhiều người bắt đầu lạc hướng. Sai đường. Thay vì lo cho linh hồn, lại chỉ chú trọng đến những xác và thịt, thôi.

Là con dân nhà Đạo, chắc bạn và tôi, ta cũng nên nói lại cho đúng, rằng: thân xác con người dù quan trọng thật, vì nó giúp ta những ăn cùng thở và suy nghĩ, nhưng vẫn không là tất cả. Và, hiểu theo nghĩa nào đó, thì: nó vẫn chẳng là gì. Đẹp/xấu cũng chỉ một thời, rồi thôi. Quan trọng hơn, nó chỉ là phương tiện để ta có kinh nghiệm gặp gỡ Chúa. Gặp, những người sống quanh ta. Kinh nghiệm, là những kinh và nghiệm về một hoạt động của thể lực. Kinh và nghiệm, là những “nghiệm” và

"kinh” liên kết thể xác với người mình thương. Kinh và nghiệm về đớn đau. Về, sự yếu đuối của chính mình, để rồi từ đó mới biết trân trọng quà tặng, Chúa tặng ban.

Thật tình thì, mỗi người nhìn thân xác theo cung cách khác biệt. Có người nhìn nó như chú chó lông xù rất đáng yêu. Có người lại coi đây như tài sản quý giá đáng trân trọng và chăm sóc. Chăm và sóc, không chỉ bằng các phương tiện của đời phàm. Hoặc, để tối ngày soi gương mặt giếng mà chiêm ngưỡng dung nhan, như thần Narcissus vẫn thường làm.

Thật ra, thì thân xác là chính con người. Những con của người, có cả xác thể lẫn hồn thiêng được Chúa yêu thương hun đúc thành hữu thể sống động, mà sống với Chúa. Có Chúa ở cùng. Xem thế, thì thân xác không phải là kẻ thù, mà là mình. Là, bạn thân của chính mình. Là, bạn của Chúa. Bởi, chính Chúa đã chấp nhận mang thân phận “người” có xác phàm vào với Ngài, gồm cả hồn xác. Về ý tưởng này, nghệ sĩ trên đã minh định:

“Kẻ thù ta đâu có ở người ngoài

Nó nằm đây nằm ngay ở mỗi ai

Kẻ thù ta trong mắt thèm lơ láo

Kẻ thù ta trong góc đầu tự kiêu

Trong cõi lòng quạnh hiu

Trong óc hẹp tiêu điều

Trong giấc mộng xâm chiếm nhau.”

(Phạm Duy – bđd)

Xem thế thì, nghĩ đi và nghĩ lại, thân và xác ta đâu là kẻ thù đếm thứ 3. Quan trọng hơn cả, thân xác không chỉ mang “ảnh hình” Thiên Chúa, thôi. Mà, còn được đính kèm cả hồn thiêng nữa. Nói cách khác, thân xác là ta. Là, Chúa ở nơi ta. Bởi, Chúa có thương yêu/tôn trọng ta, Ngài mới ban cho con người của ta một thân xác. Ngõ hầu, xác thân ấy sẽ phản ánh/chiếu soi ảnh hình Ngài. Thân xác ta, không chỉ là đền thờ Chúa thôi, mà còn là “nhà” Chúa. Là nơi để Chúa đến mà trú ngụ. Chúa đến, mà thăm viếng. Thở than. Râm ran, nhiều tình tự.

Bởi, thân xác là ta, nên Kinh Sách vẫn tỏ cho ta biết đường mà kính trọng. Biết đường, mà đánh giá cao. Biết, để mình dùng thân xác mà vui hưởng cuộc đời như vui chơi, ăn uống. Biết tồn trữ nơi mình của ăn thức uống, rất ê hề. Thân xác, là quà tặng ta trao cho nhau, khi hai người trở nên một. Một gia đình. Tình nhân. Qua hôn phối. Để rồi sẽ “tương kính như tân”. Tôn và kính, như tặng phẩm Chúa kiến tạo. Tặng ban. Phân phát.

Một trong những đặc điểm của thân xác vốn là quà tặng Chúa ban, là vẻ đẹp hiếm quý, mỹ miều. Đẹp, cả ở bên ngoài lẫn bên trong. Đẹp bên trong, rồi sẽ tiết ra ngoài. Có vậy mới đáng giá. Có vậy, quà tặng mới mỹ miều. Đó cũng là điều mọi người cần nuôi dưỡng, cảm tạ. Cảm kích để tạ Ơn Trên. Cảm kích và tri ân người khác đã giúp đỡ, sẻ san. Ngõ hầu quà tặng diễm kiều do Chúa gửi đến, sẽ cứ thế đẹp lên mãi.

Nói cách khác, vẻ kiều diễm của thân xác là tặng phẩm Chúa phú ban, không chỉ để ta sung sướng/hưởng thụ cho riêng mình. Mà, vì nó đẹp cả trong lẫn ngoài, nên mỗi người và mọi người cũng nên sẻ san với người khác. San và sẽ, để rồi tất cả sẽ cùng nhau cảm tạ và ghi tạc Ơn Trên đã ban phát những thứ ấy cho ta. Cho người.

Nói theo kiểu nghệ sĩ ngoài đời về kẻ thù ở trong lẫn ngoài người mình, là còn nói và hát rằng:

“Kẻ thù ta đâu có ở người ngoài

Nó nằm đây nằm ngay ở mỗi ai

Người người ơi, yêu mến người mãi mãi

Người người ơi, yêu mến người không nguôi

Yêu mến người đầy vơi

Yêu mến người đêm ngày

Yêu mến người, ta nắm tay…”

(Phạm Duy – bđd)

“Yêu mến người”, “ta nắm tay”, là những tình tự rất dễ thương. Tình tự để nói và hát về kẻ thù, tựa như người nghệ sĩ vẫn cứ hát như thế. Hát, để rồi sẽ còn yêu kẻ thù mình như người nhà Đạo! Hát những câu trên, thật ra chưa hẳn là đường hướng của tôi và bạn, ở trong đời. Nhưng vẫn cứ là câu hát rất ưu tư khiến bần đạo lại muốn gửi đến bạn bè người thân thêm lời nhắn nhủ, rằng: hãy cứ từ từ mà kiếm tìm một lập trường rất phải lẽ. Không có gì gấp gáp. Chỉ gấp một điều, là: hễ gặp điều gì khiến mình suy tư lo nghĩ ở đâu đó, thì xin bạn/xin tôi hãy cứ mạnh dạn mà hát và nói lên lời người nghệ sĩ già họ Phạm từng nói và hát, rất như sau:

“Kẻ thù ta, đâu có phải là người

Giết người đi, thì ta ở với ai ?

Kẻ thù ta, đâu có phải là người

Giết người đi, thì ta ở với ai ?

Người người ơi, thương xót người nhỏ bé

Người người ơi, thương xót người ngây thơ

Thương xót người bị mua

Thương xót người bị lừa

Thương xót người thương xót ta.”

(Phạm Duy - bđd)

Và, hát thế nghĩa là: chẳng cần biết thân xác, thế gian và ma quỷ có là kẻ thù hay gì gì đi nữa, chẳng cần hiểu kẻ thù ta có đáng gờm hay không, ta cứ xin. Xin được như người nghệ sĩ cứ ngâm nga ba câu hát ở cuối bài mà kết thúc. Kết rồi thúc, để biết rõ chính mình hơn. Kết là kết như thế này:

“Kẻ thù ta, đâu có ở người ngoài

Nó nằm đây, nằm ngay ở mỗi ai

Kẻ thù ta, tên nó là vu khống

Kẻ thù ta, tên nó là vô minh

Tên nó là lòng tham

Tên nó là tị hiềm

Tên, nó là sự ghét ghen.”

(Phạm Duy – bđd)

Vâng. Đúng thế. Chỉ ghét ghen mới là kẻ thù truyền kiếp của con người. Suốt mọi thời. Bởi, nó nằm ngay bên trong thân xác của ta. Bởi thế nên, ta mới ngộ nhận về thân xác! Vậy thì, hỡi tôi và hỡi bạn, ta cứ ngợi ca/yêu thương kẻ thù ở nơi thân-xác-là-đền-thờ-Chúa-ngự, để rồi ta sẽ sẻ san mọi ưu tư mà giùm giúp, với quyết tâm. Quyết sẽ thắng. Chứ không thua.

Trần Ngọc Mười Hai

Vẫn suy nghĩ nhiều về

“Kẻ thù ta”, và kẻ thù của mọi người.

Để rồi, sẽ hát lai rai hát dài dài vài ba câu bên dưới:

“Kẻ thù ta đâu có phải là người

Giết người đi thì ta ở với ai?

Kẻ thù ta đâu có ở người ngoài

Nó nằm đây nằm ngay ở mỗi ai!...

Kẻ thù ta…

“Rồi buổi u sầu, em với tôi”

“Nhìn nhau cũng đủ lãng quên đời…”

(dẫn từ thơ Đinh Hùng)

Mt 7: 21-27

U sầu, mà lại nhìn nhau phải chăng là để lãng quên đời? Quên đời mình, thì dù có nhìn trời và nhìn nhau cũng không thể thấy là người người để quên mất ánh mắt tươi, làn môi cười hoặc chính đường lối sống rất mới của Chúa qua Tin Mừng do thánh Mátthêu gửi đến, hết mọi người! Thánh nhân gửi, là gửi lời tâm phúc cũ/mới đáng ta suy tư/nguyện cầu, để rồi sẽ sống theo Lời Chúa nhủ khuyên.

Một trong các đường hướng thánh Mátthêu thực hiện được khi ghi chép Lời Chúa, là nhấn mạnh đến diễn tiến rất liên hồi về các sự kiện liên quan đến hoạt động của Chúa, với dân con. Về, những gì xảy đến trong quá trình lịch sử. Cả những diễn tiến bao gồm những điều mới mẻ về Chúa, ngõ hầu đánh động người đọc. Sự liên tục của quá trình thời cổ sử và sự cải tổ cho thêm mới, đều là thành tựu khó mà tạo được cân bằng. Cái hay của thánh Mátthêu, là thánh nhân đã tin vào những yếu tố mới mẻ nơi Chúa khi viết về diễn tiến lịch sử, tức những đích thực như đã xảy ra, vẫn rất mới.

Ai có kinh nghiệm biết rõ về Công Đồng Vatican II, hẳn sẽ nhận ra được yếu tố này. Vấn đề, là hỏi rằng: Công đồng Vatican II thực chất có gì mới lạ, với Hội thánh? Đó phải chăng chỉ là một trong các Công nghị diễn tiến như bánh xe lịch sử, chẳng gì mới?

Nhìn vào các sự kiện xảy đến trong đời, tựa hồ chuyện hằng ngày ta vẫn thấy, thì sẽ có lúc ta nhận ra rằng: sự kiện lịch sử là một trong các hiện tượng thường kéo theo sau nhiều hệ luỵ, tuy rất chậm. Hệ luỵ, là những hệ quả khiến ta tuỳ thuộc vào diễn biến lịch sử. Hệ luỵ, qua nhiều cách giải thích các sự việc xảy ra, rất từ từ. Chầm chậm. Có thứ, kéo dài cả thập niên. Có thứ, phải mất hằng thế kỷ, mới hiểu được.

Sau thời gian dài như thế, con người mới nhận ra lý do tại sao mình phải trải qua nhiều sự kiện/hiện tượng đến như thế. Tức, muốn hiểu được những gì đã và đang xảy đến, ta phải trải qua các những điều mà có người gọi đó là: “những đối chọi về một giải thích”. Tức, hễ ai quan tâm đến sự kiện này/hiện tượng nọ, đều phải đưa ra lời giải thích đôi lúc trái nghịch nhau. Lời giải thích ấy, đôi khi rất kéo dài. Kéo đến độ sau nhiều bàn luận dài và lâu, người trong cuộc mới chấp nhận sự kiện/hiện tượng đối nghịch ấy và đưa vào với nhóm hội/đoàn thể mình, hầu thực hiện trong đời sống.

Nói cách giản đơn hơn, thì ngày nay có hai khuynh hướng gồm những người đề cao điều mới mẻ về Công Đồng Vatican II, hẳn vẫn coi đó như luồng gió mới, đem niềm tươi mát cho Hội thánh. Với họ, ta phải ngồi nghe suốt hàng giờ, để chờ họ nói về tình hình Hội thánh “trước”/”sau” Công Đồng, theo nghĩa lịch sử tiếp diễn. Kéo dài. Rồi từ đó, mới nhận ra được sự mới mẻ xuất hiện sau khi Công Đồng tụ tập. Bàn luận.

Khuynh hướng kia, chỉ để ý đến tính cánh liên hồi của Công Đồng, tức những gì gắn liền với quá trình mang đặc tính “Công giáo” của Hội thánh, mà thôi. Các vị ấy vẫn muốn đưa đề tài quan trọng nào vốn được Công Đồng đề cập đến trong quá trình dài đằng đẵng. Theo cách đó, các vị này càng ít nhận ra điều mới mẻ ở Công Đồng cho bằng các đấng bậc vị vọng, thuộc nhóm 1. Các đấng bậc này nhận ra được nơi Công Đồng, tính cách liên tục vẫn diễn tiến như trong lịch sử. Vì thế, các vị ấy mới có ý định sửa đổi mọi cố gắng của các nhóm muốn biến Hội thánh thành một thánh hội, hoàn toàn mới mẻ.

Thật ra thì, cả hai nhóm lập trường nói trên vẫn cần có thời gian để định ra được giá trị cho việc sửa đổi trong tương lai, mai ngày. Một số vị chỉ muốn cắt ngắn thời gian cần có, càng ngắn càng tốt. Trong khi đó, một số đấng bậc khác trong Hội thánh xem ra còn muốn cải tổ cả công cuộc đổi mới của Công Đồng nữa. Cuối cùng thì, kết quả đạt được lại tạo sự xa cách đối với các vị có yêu cầu đổi mới. Xa và cách, cả với giới trẻ từng xuất thân và lớn lên trong hoàn cảnh khác biệt.

Nhân kỷ niệm 40 năm nhìn lại những thành tựu của Công Đồng Vatican II, Đức Giáo Hoàng Bênêđíchtô XVI có nói:: “Vatican II, là Công Đồng chủ trương đường lối mà con người sống trong thế giới, cần thực tiễn. Và nền thần học của Công Đồng, là học về đường lối Chúa sống trong thực tại trần thế mà ta không thể biết rõ cho đến ngày ta về với Ngài, chốn Nước Trời. Nhiều thủ lãnh Giáo hội bị bắt gặp đang còn ngủ quên, ở đâu đó. Và, Công Đồng đã chứng tỏ thành tựu tích cực đối với cuộc sống nhân trần. Với thế giới tự tại. Với việc cho đi những gì là chiến thắng trong vinh quang kiểu trần tục. Với đường lối đa dạng hơn là khuôn thước ngõ hầu thực hiện rất nhiều điều. Từ Công Đồng này đã thấy xuất hiện các áp lực của thế giới thực tại ngày càng trở nên mạnh mẽ hơn ngõ hầu thúc đẩy Hội thánh theo con đường mà Công Đồng từng vạch mở, để rồi Hội thánh có nhiệm vụ phải đi xa hơn thế nữa.”

Có đúng thế không? Có đúng là tất cả đã thành tựu theo chiều hướng ấy không?

Đó là điều mà sự kiện/hiện tượng về sự “liên tục và dứt đoạn” cứ diễn tiến. Có người chỉ muốn trở về với Giáo hội thời cổ sử kiểu Constantin và của Đức Giáo Tông Piô IX đề ra. Có vị lại cứ muốn Hội thánh biết tổ chức và có được ý niệm về sự kiện/hiện tượng, rất khác hẳn. Muốn, là muốn Hội thánh phải là thánh hội của Tân Ước và của Công Đồng Chung Vatican II.

Từ đó, sẽ có câu hỏi, rằng: nếu vậy, thánh Mátthêu muốn nói với ta điều gì khi ngài ghi chép?

Thật ra, thì thánh Mátthêu đã khám phá ra được một đổi mới tận gốc rễ, nơi Đức Giêsu. Thánh nhân còn khám phá được sự liên tục triệt để nơi đường lối Chúa sống rất trung thực như người Do thái. Và, thánh Mátthêu ghi chép Tin Mừng là để mong cho dân con Hội thánh Chúa sống đời đổi mới như chính Chúa sống. Đồng thời, Ngài vẫn sống theo cung cách rất đúng Luật của người Do thái rất cổ lỗ. Thánh sử tìm cách nhấn mạnh những gì rất mới và cũng như rất “nệ cổ” nơi lối sống người Do thái, qua Đức Giêsu Kitô. Ngài là Đấng có một không hai, qua cung cách sống của người Do thái. Và, tính cách độc đáo ấy giúp Ngài sống một cuộc sống vừa trải dài với truyền thống, vừa “cập-nhật-hoá” cuộc sống của Ngài, theo cung cách độc nhất vô nhị ấy.

Nhìn từ góc độ nào đó, có thể nói: thánh Mátthêu đã kéo ngược giòng lịch sử, để về với sự mới mẻ mà thánh Phaolô và Tin Mừng thánh Mác-cô từng tập trung nhấn mạnh. Thánh nhân vẫn xác tín rằng cộng đoàn Phaolô và Tin Mừng thánh Máccô nhấn mạnh quá nhiều vào tính cách mới mẻ này. Dù các ngài vẫn tin vào sự mới mẻ ở sự sống của Đức Chúa. Thánh nhân từng viết: “Nhưng Ngài lại đích là một người Do thái!”, “Ngài thi hành và sống Luật Torah Do thái theo mức độ mà không người Do thái nào có thể làm được…”

Nói cách khác, Luật Torah của Do thái chính là cuộc sống rất đích thực mà Chúa sống. Nói thế, có nghĩa: Do thái giáo đã thay đổi cả và thời về sau. Bởi, chính Chúa đã sống như thế, theo cung cách rất riêng của Ngài. Và, thánh Mátthêu thấy được điều này, nơi Đức Chúa. Và, chính thánh nhân cũng thấy được ngày mai vĩnh cửu của Đạo, nơi người Do thái mình.

Hôm nay, Mùa Chay đang dần dần gần đến. Đây là mùa lễ giúp mọi người bỏ qua một bên, các ý hướng cũng như tâm tưởng, của thánh Mátthêu. Để qua một bên, là bởi: với phụng vụ năm A, là năm ta sẽ còn nghe đọc nhiều đoạn Tin Mừng do thánh Mátthêu viết. Đó, sẽ là một phần trong các ý tưởng chủ lực về kỷ luật của Hội thánh khi cử hành phụng vụ Mùa Chay. Là, quyết tâm tìm ra tương lai mai ngày cho riêng mình. Để rồi, trên hành trình thực hiện cuộc sống có đổi mới như Chúa dạy. Sống trong vòng tay dẫn dắt của Hội thánh khi rong ruổi những kiếm tìm. Bởi, trong hành trình tìm kiếm Chúa, lập trường và đường lối đổi mới do thánh sử Mát-thêu đưa ra, sẽ giúp cho ta rất nhiều điều.

Trong nhận thức tầm quan trọng của lối sống được Chúa chỉ dạy, ta hãy cùng nhà thơ trên, ngâm nga thêm lời ca vang, rằng:

“Rồi buổi u sầu, em với tôi,

Nhìn nhau cũng đủ lãng quên đời.

Vai kề một mái, thơ phong nguyệt,

Hạnh phúc xa xa, mỉm miệng cười.”

(Đinh Hùng – Bài Ca Hạnh Ngộ)

“Vai kề một mái” rất nên thơ. Hết “u sầu”. Cho dẫu đời mình từng lãng quên đường Lối Chúa dạy, thì “Hạnh phúc vẫn mỉm cười, rất xa xa.” Hạnh phúc, là những phúc hạnh Chúa hứa với mọi người từng dấn bước theo chân Ngài. Hạnh phúc, là những phúc hạnh ta đạt được khi thực hiện cả đường lối do Công Đồng qui định. Hạnh phúc cũ/mới sẽ kéo dài mãi, đến sau này.

Lm Nguyễn Đức Vinh Sanh

Mai Tá lược dịch.
 
Chỉ trong Thiên Chúa mà thôi
Anmai CsSr.
19:33 25/02/2011
Chúa Nhật Thứ 8 Mùa Thường Niên, Năm A - (Is 49, 14-15; 1 Cr 4, 1-5; Mt 6, 26-34)

Đã là người, khi bước vào cuộc đời này không tránh khỏi những băn khoăn. Có những băn khoăn về phận người, có những băn khoăn về đời sống vật chất và cũng có những băn khoăn về đời sống tinh thần. Từ những băn khoăn đó, con người đi tìm lý giải cho ý nghĩa của cuộc đời. Vì mang trong phận mình là con người yếu đuối, bất toàn hay nói đúng hơn là bất lực trước những nghịch cảnh của cuộc đời để rồi sự băn khoăn đó cứ dồn dập trong cuộc đời.

Thiên Chúa nói với con người là Thiên Chúa ở bên, ở gần con người và chở che con người ấy nhưng mà thực tế trong cuộc sống, quá nhiều lần Thiên Chúa làm cho con người hụt hẫng và không biết là Thiên Chúa có ở cạnh bên mình hay không ?

Trong bài ca thứ hai, bài ca người Tôi Trung trong sách ngôn sứ Isaia mà chúng ta nghe đó diễn tả tâm trạng thổn thức, tâm trạng lo lắng rằng Thiên Chúa có ở bên mình hay không. Chúng ta vừa nghe: Sion từng nói: "Đức Chúa đã bỏ tôi, Chúa Thượng tôi đã quên tôi rồi! " Nghe tiếng lòng thổn thức như vậy, Đức Chúa đã đáp lời: Có phụ nữ nào quên được đứa con thơ của mình, hay chẳng thương đứa con mình đã mang nặng đẻ đau? Cho dù nó có quên đi nữa, thì Ta, Ta cũng chẳng quên ngươi bao giờ.

Đức Chúa không cần phải nói nhiều, không cần giải thích nhiều, Đức Chúa chỉ lấy hình ảnh của một người mẹ để minh họa. Đã là mẹ thì không bao giờ có ai cam tâm bỏ con mình cả và rồi Đức Chúa nói rằng dẫu cho là người mẹ có quên đứa con mình đi chăng nữa vì lý do nào đó còn Đức Chúa thì Đức Chúa không hề quên.

Chúa Giêsu, hôm nay, trong trang tin mừng hết sức quen thuộc như muốn nhắc lại cho chúng ta về thao thức của con người về tương lai, về cuộc đời.

Với hình ảnh hết sức bình thường của con chim. Chúa Giêsu nói cho các môn đệ rằng chúng không gieo, không gặt và cũng chẳng thu vào kho lẫm thế nhưng mà lạ lùng là cha trên trời vẫn nuôi chúng. Quả thật là như vậy, bao nhiêu con chim trên trời nhưng chúng ta thấy có con nào phải chết vì đói đâu. Thiên Chúa vẫn nuôi chúng mỗi ngày, không chỉ có nuôi thôi nhưng còn nuôi một cách hết sức chu đáo nữa là đàng khác.

Kế đến, Chúa Giêsu lại dí dỏm về chiều cao của con người. Ai lùn thì sẽ rõ chuyện này. Biết mình lùn đấy nhưng làm sao mà có thể cao hơn được. Khoa học dù có can thiệp đi chăng nữa nhưng hình như chẳng được là bao.

Hết sức bình thường với con người là chuyện cơm ăn áo mặc. Dù cho con người cố gắng mặc đẹp thế nào đi chăng nữa thì cũng chẳng thể nào sánh bằng bông hoa huệ ngoài đồng. Không chỉ có hoa huệ mà còn nhiều loài hoa khác nữa áo quần của con người không thể nào sánh ví với vẻ đẹp mà tạo tác ban tặng cho nó.

Đi đến một bước xa hơn nữa, Chúa Giêsu nói rằng tất cả những gì lo cho con người thì mọi người và cả dân ngoại cũng đi tìm cái đó nhưng Cha của anh em trên Trời biết anh em đi tìm cái gì. Kết thúc những gì Ngài nói, đỉnh điểm của điều Ngài nói đó là chớ phải lo lắng gì về ngày mai cả. Ngày mai đều nằm trong lòng bàn tay của Chúa.

Thánh Vịnh 61 mà chúng ta vừa nghe trong bài đáp ca nói lên tâm tình cuả người tin tưởng vào Chúa: Chỉ trong Thiên Chúa mà thôi,

hồn tôi mới được nghỉ ngơi yên hàn.

Ơn cứu độ tôi bởi Người mà đến,

duy Người là núi đá, là ơn cứu độ của tôi,

là thành luỹ chở che: tôi chẳng hề nao núng.

Chỉ trong Thiên Chúa mà thôi,

này hồn tôi hãy nghỉ ngơi yên hàn.

Vì hy vọng của tôi bởi Người mà đến,

duy Người là núi đá, là ơn cứu độ của tôi,

là thành luỹ chở che: tôi chẳng hề nao núng.

Nhờ Thiên Chúa, tôi được cứu độ và vinh quang,

Người là núi đá vững vàng,

ở bên Thiên Chúa tôi hằng ẩn thân.

Hỡi dân ta, hãy tin tưởng vào Người luôn mãi,

trước mặt Người, hãy thổ lộ tâm can:

Thiên Chúa là nơi ta ẩn náu.

Thánh Vịnh 61 quả thật là tuyệt vời khi nói đến kẻ thường dân, khi nói đến người quyền quý. Tất cả chỉ là không không trước mặt Thiên Chúa mà thôi:

Kẻ thường dân âu chỉ là hơi thở,

người quyền quý đều ví tựa ảo huyền,

đứng cả lên cân cũng chẳng tày mây khói.

Đừng tin tưởng ở trò áp bức nữa,

chớ hoài công cậy ngón bóc lột người!

Tiền tài dẫu sinh sôi nảy nở,

lòng chẳng nên gắn bó làm chi.

Thế đấy ! Phận con người hết sức mong manh và dù cho có giàu có, dù tiền tài có sinh sôi nảy nở đi chăng nữa cũng chẳng giải quyết được chuyện gì. Tại sao không giải quyết được ? Là vì khi nhắm mắt xuôi tay có mang theo được gì đâu và sinh mạng của mỗi người nằm trong tay ai ?

Mới đây không lâu, một buổi chiều trung tuần tháng 1. Một linh mục thân quen vừa từ trên lầu xuống để đi dâng Lễ bỗng dưng té ngã. Anh em đưa vị linh mục ấy đi cấp cứu và rồi vừa vào nhà thương thì tim đã ngưng đập. Cố gắng hết sức chạy chữa nhưng không qua khỏi.

Được biết sáng hôm ấy thì địa phận Mỹ Tho phải ngậm ngùi chia tay với cha sở và cũng là giám đốc Trung Tâm Mục vụ của địa phận. Nghe đâu Ngài đang chơi thể thao với các thầy bỗng dưng té xuống. 15 giờ 30 Chúa gọi Ngài về.

Đang chuẩn bị cử hành lễ an táng cho Cha kia vừa té ngã ở chân cầu thang và được Chúa gọi về thì nghe tin nghệ sĩ ưu tú Kim Ngọc cũng vừa ra đi sau khi té ở nhà riêng. Con cái, bạn bè thân hữu không khỏi bàng hoàn trước sự ra đi của nghệ sĩ Kim Ngọc.

Đứng trước 3 cuộc ra đi vội vàng ấy những ai quen biết, những người thân trong gia đình không ai là không bàng hoàng, không thẩn thờ. 3 cuộc đời ấy, ba sinh mạng ấy chắc chắn không ai có thể ngờ được rằng đến ngày đó Thiên Chúa gọi về. Nhiều người vẫn tưởng là những người ấy không thể nào đi sớm như vậy. Trong Thánh Lễ an táng, vị giảng lễ hôm ấy ngậm ngùi thân thưa với cộng đoàn, với người quá cố rằng ngài không nghĩ rằng ngài giảng lễ an táng cho người quá cố. Lẽ ra người quá cố giảng lễ an táng cho ngài vì ngài lớn tuổi hơn người quá cố !

Lớn tuổi hơn, nhỏ tuổi hơn hay thậm chí tài giỏi hơn không quan trọng. Chuyện quan trọng là tất cả đều nằm trong lòng bàn tay của Chúa tất cả.

Chúa đã khẳng định rằng tất cả những gì mà chúng ta chưa kịp xin thì Ngài thấu hiểu. Cuộc đời của chúng ta, chúng ta chưa biết ngày nào, giờ nào nhưng Thiên Chúa biết.

Thiên Chúa vẫn mời gọi chúng ta tin tưởng, quan phòng vào lòng bàn tay từ ái của Chúa. Thái độ tin tưởng hay ngờ vực vẫn là thái độ tự do và lời đáp trả của mỗi người chúng ta.
 
Tin Giáo Hội Hoàn Vũ
Các Giám Mục Hoa Kỳ chỉ trích quyết định của chính phủ Obama về luật hôn phối
Bùi Hữu Thư
08:36 25/02/2011
Hoa Thịnh Đốn (CNS) – Văn Phòng Luật Pháp của Hội Đồng Giám Mục Hoa Kỳ nói quyết định của chính phủ Obama là không còn yểm trợ cho Đạo Luật Bảo Vệ Hôn Nhân trong những thách đố về luật pháp sắp tới có nghĩa là “một sự từ bỏ” “đòi hỏi của Hiếp Pháp là bảo đảm rằng luật pháp của Hoa Kỳ phải được thi hành một cách trung thành.”

Tuyên cáo cuả văn phòng này được phổ biến ngày 23 tháng Hai sau khi Tổng Thống Obama chỉ thị cho Bộ Tư Pháp ngưng bảo vệ đạo luật Liên Bang được Quốc Hội thông qua và được Tổng Thống Bill Clinton chuẩn y thành bộ luật năm 1966: "Hôn nhân đã được hiểu qua bao nhiêu ngàn năm và bởi biết bao nhiêu nền văn hóa là một sự kết hợp giữa một người nam và một người nữ."

Đạo luật Bảo Vệ Hôn Nhân nói rằng chính phủ Liên Bang định nghĩa hôn nhân là một sự kết hợp giữa một người nam và một người nữ và không một tiểu bang nào được công nhận các giấy phép hôn phối giữa hai người đồng phái tính của một tiểu bang khác.

Văn phòng Luật Pháp nói: "Căn bản chính cho quyết định ngày nay là tổng thống Obama coi đạo luật này là một hình thức không được cho phép kỳ thị dựa trên khuynh hướng tính dục.”

Trong tuyên cáo ngày 23 tháng Hai, Tổng Trưởng Tư Pháp Eric Holder nói mặc dầu chính phủ đã bảo vệ đạo luật năm 1966 trong một vài tòa án liên bang, nhưng sẽ không tiếp tục làm như vậy trong những trường hợp còn đang chờ sự phán xét của Toà Chống Án Hoa Kỳ (2nd U.S. Circuit Court of Appeals.)

Khác với các trường hợp trước đây, ông Holder nói, Toà Chống Án (2nd Circuit) "không có các tiêu chuẩn đã được thiết lập hay bó buộc về việc phân xử các đạo luật liên quan đến khuynh hướng tính dục."

Đáp ứng tuyên cáo này, Tổ chức Hôn Nhân Quốc Gia (the National Organization for Marriage,) chống lại hôn nhân đồng phái tính, đã kêu gọi Quốc Hội hãy “kêu gọi các luật sư trong các tòa là những người thật sự muốn bảo vệ đạo luật, thay vì những người có lợi cho những chiêu bài chính trị của họ.”
 
Nguyên văn Sứ điệp Mùa Chay 2011 của Đức Thánh Cha Biển Đức XVI
+ĐGH Biển Đức XVI
09:39 25/02/2011
VATICAN. Trong Sứ điệp nhân dịp Mùa Chay 2001, bắt đầu từ Thứ tư Lễ tro 9-3 sắp tới, ĐTC Biển Đức 16 mời gọi các tín hữu tái khám phá và sống trọn ý nghĩa bí tích Rửa tội, dựa theo hành trình phụng vụ Mùa Chay, và vượt thắng lòng ích kỷ.

Sứ điệp của ĐTC có chủ đề ”Cùng với Chúa Kitô anh chị em đã được chôn táng trong phép Rửa Tội, và anh chị em cũng được sống lại với Người” (Xc Cl 2,12), và đã được ĐHY Robert Sarah, Chủ tịch Hội đồng Tòa Thánh Cor Unum (Đồng Tâm), và các vị phụ tá, giới thiệu trong cuộc họp báo sáng hôm ngày 22-2-2011, tại Phòng Báo Chí Tòa Thánh. Dưới đây là nguyên văn Sứ Điệp của ĐTC.

”Cùng với Chúa Kitô anh chị em đã được chôn táng trong phép Rửa Tội, và anh chị em cũng được sống lại với Người” (Xc Cl 2,12).

Anh chị em thân mến,

Đối với Giáo Hội, Mùa Chay, - dẫn chúng ta đến việc cử hành Lễ Phục Sinh, - là một mùa phụng vụ rất quí báu và quan trọng, vì thế nhân mùa này, tôi vui mừng gửi Sứ Điệp để Mùa Chay này được sống với tất cả lòng nhiệt thành cần thiết. Trong khi chờ đợi cuộc gặp gỡ chung kết với vị Hôn Phu của mình trong Lễ Vượt Qua vĩnh cửu, Cộng đồng Giáo Hội chuyên cần cầu nguyện và thực hành bác ái, tăng cường hành trình thanh tẩy tinh thần, để kín múc sự sống mới trong Chúa Kitô một cách dồi dào hơn nơi Mầu Nhiệm cứu chuộc (Xc Kinh tiền tụng I Mùa Chay).

1. Chính sự sống mới ấy đã được thông truyền cho chúng ta trong ngày chúng ta chịu Phép Rửa, khi ”được tham dự vào cái chết và sự sống lại của Chúa Kitô”, chúng ta bắt đầu một ”cuộc phiêu lưu vui tươi và đầy phấn khởi của người môn đệ” (Bài giảng lễ Chúa chịu Phép Rửa 10-1-2010). Thánh Phaolô, qua các thư của ngài, nhiều lần nhấn mạnh về sự hiệp thông đặc biệt với Con Thiên Chúa, được thực hiện trong sự thanh tẩy ấy. Sự kiện phần lớn chúng ta chịu Phép Rửa tội khi còn nhỏ, cho chúng ta thấy rõ đây là một hồng ân của Thiên Chúa: tự sức riêng của mình, không ai đáng được sự sống đời đời. Lòng từ bi Chúa xóa bỏ tội lỗi và cho chúng ta được sống ”những tâm tình của Chúa Giêsu Kitô” (Ph 2,5) trong cuộc sống của chúng ta, lòng từ bi ấy được thông ban cho con người một cách nhưng không.

Thánh Tông Đồ dân ngoại, trong thư gửi Tín Hữu Philiphê, nêu rõ ý nghĩa sự biến đổi được thực hiện nhờ tham dự vào sự chết và sự sống lại của Chúa Kitô, và cho thấy rõ mục tiêu cần theo đuổi, đó là để ”tôi có thể biết Ngài, với quyền năng sự sống lại của Ngài, sự hiệp thông với những đau khổ của Ngài, trở nên đồng hình dạng với cái chết của Ngài, với hy vọng được sống lại từ cõi chết” (Ph 3,10-11). Vì thế, Bí tích Rửa Tội không phải là một nghi thức quá khứ, nhưng là một cuộc gặp gỡ với Chúa Kitô, ảnh hưởng trên toàn thể cuộc sống của người chịu Phép Rửa, mang lại cho họ sự sống thần linh và kêu gọi họ chân thành hoán cải, một cuộc hoán cải được ân thánh khởi sự và nâng đỡ, đưa họ đạt tới tầm mức trưởng thành của Chúa Kitô. Có một mối liên hệ đặc biệt giữa Bí tích Rửa Tội và Mùa Chay như một thời điểm thuận tiện để cảm nghiệm ơn thánh cứu độ. Các Nghị Phụ Công đồng chung Vatican 2 đã nhắc nhở tất cả các vị Mục Tử của Giáo Hội hãy sử dụng ”nhiều hơn các yếu tố Phép Rửa thuộc phụng vụ Mùa Chay” (Hiến chế Sacrosanctum Concilium, 109). Thực vậy, từ đầu Giáo Hội vẫn luôn liên kết Lễ Vọng Phục Sinh với việc cử hành Phép Rửa Tội: trong Bí Tích này có thể hiện mầu nhiệm cao cả qua đó con người chết cho tội lỗi, được tham dự vào đời sống mới trong Chúa Kitô Phục Sinh và lãnh nhận cùng Thánh Linh của Thiên Chúa, Đấng đã làm cho Đức Giêsu sống lại từ cõi chết (Xc Rm 8,11). Hồng ân nhưng không này phải luôn được khơi dậy nơi mỗi người chúng ta và Mùa Chay mang lại cho chúng ta một hành trình tương tự như thời gian dự tòng. Đối với các tín hữu của Giáo Hội thời xưa cũng như các dự tòng ngày nay, hành trình này là một trường học tối quan trọng về đức tin và đời sống Kitô; quả thực họ sống Bí tích Rửa Tội như một hành động quyết định đối với toàn thể cuộc sống của họ.

2. Để nghiêm túc bắt đầu hành trình tiến về Lễ Phục Sinh và chuẩn bị cử hành sự sống lại của Chúa - là lễ vui mừng và trọng đại nhất trong toàn năm phụng vụ - thử hỏi có gì thích hợp hơn là để cho Lời Chúa dẫn dắt? Vì thế, qua những bài Phúc Âm các chúa nhật Mùa Chay, Giáo Hội hướng dẫn chúng ta đến một cuộc gặp gỡ đặc biệt nồng nhiệt với Chúa, bằng cách đưa chúng ta tiến qua các giai đoạn trong hành trình khai tâm Kitô giáo: đối với các dự tòng, hành trình ấy nhắm đến việc lãnh nhận bí tích tái sinh, và đối với những người đã chịu phép Rửa, là để họ đạt tới những bước tiến mới có tính chất quyết định trong hành trình theo Chúa Kitô và hiến thân trọn vẹn hơn”.

- Chúa nhật thứ I trong hành trình Mùa Chay làm nổi bật thân phận phàm nhân chúng ta trên trái đất này. Cuộc chiến đấu hiển thắng chống lại những cám dỗ, khơi mào sứ vụ của Chúa Giêsu, là một lời mời gọi hãy ý thức sự mong manh dòn mỏng của mình để đón nhận Ơn Thánh giải thoát khỏi tội lỗi và đổ tràn sức mạnh mới trong Chúa Kitô, là đường, là sự thật và là sự sống (Xc Sách Khai Tâm Kitô giáo cho người lớn, số 25). Đó là lời nhắc nhở quyết liệt rằng, theo gương Chúa Giêsu và trong sự hiệp nhất với Ngài, đức tin Kitô giáo cũng bao hàm một cuộc chiến đấu ”chống lại những kẻ thống trị trần thế đen tối này” (Ep 6,12), trong đó ma quỷ đang hoạt động không mệt mỏi, kể cả ngày nay, trong việc cám dỗ người muốn đến gần Chúa: Chúa Kitô đã chiến thắng cám dỗ để mang lại hy vọng cho tâm hồn chúng ta và hướng dẫn chúng ta chiến thắng những quyến rũ của sự ác.

- Tin Mừng về cuộc Hiển Dung của Chúa đặt trước mắt chúng ta vinh quang của Chúa Kitô, báo trước cuộc phục sinh và loan báo sự thần hóa con người. Cộng đoàn Kitô ý thức mình được dẫn lên núi cao (Mt 17,1) như các Tông Đồ Phêrô, Giacôbê và Gioan, để tái đón nhận, trong Chúa Kitô, trong tư cách là con cái trong Chúa Con, món quà Ân Sủng của Chúa Kitô: ”Này là Con Ta yêu dấu, Ta hài lòng về Người. Hãy nghe lời Người” (câu 5). Đó là một lời mời gọi hãy tránh xa sự ồn ào của cuộc sống thường nhật để ngụp lặn trong sự hiện diện của Thiên Chúa: Ngài muốn thông truyền cho chúng ta hằng ngày một Lời thấu vào tận thẳm sâu tinh thần chúng ta, trong đó ta phân biệt thiện và ác (Xc Dt 4,12) và củng cố ý chí theo Chúa.

- Câu Chúa Giêsu nói với người phụ nữ xứ Samaria: ”Xin cho tôi uống nước” (Ga 4,7), được đề nghị trong phụng vụ Chúa nhật thứ ba (Mùa Chay), diễn tả lòng hăng say của Thiên Chúa đối với mỗi người và muốn khơi lên trong tâm hồn chúng ta ước muốn hồng ân ”nước vọt lên cho sự sống đời đời” (câu 14): đó là hồng ân Chúa Thánh Linh, Đấng biến các tín hữu Kitô thành ”những người tôn thờ chân thực” có khả năng cầu khẩn Chúa Cha ”trong tinh thần và chân lý” (câu 23). Chỉ nước ấy mới có thể thỏa mãn ước muốn của chúng ta mong được chân, thiện, mỹ! Chỉ nước ấy, do Chúa Con ban cho chúng ta, mới tưới gội được những sa mạc của tâm hồn bất an và không được mãn nguyện, ”cho đến khi được an nghỉ trong Thiên Chúa”, theo câu nói thời danh của thánh Augustino.

- Chúa nhật người mù bẩm sinh trình bày Chúa Kitô như ánh sáng thế gian. Phúc âm gọi hỏi mỗi người chúng ta: ”Phần anh, anh có tin nơi Con Người không?”, ”Lạy Chúa, con tin!” (Ga 9,35.38), người mù bẩm sinh vui mừng quả quyết như thế, anh nói nhân danh mọi tín hữu. Phép lạ chữa lành người mù là dấu hiệu chứng tỏ rằng, cùng với thị giác, Chúa Kitô cũng muốn mở cái nhìn nội tâm chúng ta, để đức tin của chúng ta ngày càng sâu xa hơn và chúng ta có thể nhận thấy nơi Ngài là Đấng Cứu Độ duy nhất của chúng ta. Chúa soi sáng mọi tối tăm trong cuộc sống và làm cho con người sống ”như người con của ánh sáng”.

- Trong chúa nhật thứ V, khi nghe đọc trình thuật về sự sống lại của Ông Lazzaro, chúng ta được đặt trước mầu nhiệm cuối cùng của cuộc sống chúng ta: ”Thầy là sự sống lại và là sự sống.. con có tin điều này không?” (Ga 11,25-26). Đối với cộng đoàn Kitô, đây là lúc cùng với Marta, chân thành tái đặt trọn niềm hy vọng của chúng ta nơi Đức Giêsu thành Nazareth: ”Vâng, lạy Chúa, con tin Ngài là Đức Kitô, Con Thiên Chúa, Đấng đến trong thế gian” (câu 27). Sự hiệp thông với Chúa Kitô trong cuộc sống này chuẩn bị chúng ta vượt lên trên ranh giới của sự chết, để sống vô tận trong Chúa. Niềm tin nơi sự sống lại của người đã qua đời và niềm hy vọng cuộc sống vĩnh cửu mở rộng tâm trí chúng ta về ý nghĩa tối hậu của đời mình: Thiên Chúa đã tạo dựng con người để họ được sự sống lại và sự sống, và chân lý này mang lại chiều kích chân thực và chung kết cho lịch sử loài người, cho cuộc sống bản thân và xã hội của họ, cho nền văn hóa, chính trị và kinh tế. Nếu thiếu ánh sáng đức tin, thì toàn thể vũ trụ rốt cục bị khép kín trong một ngôi mộ không có tương lai, cũng chẳng có hy vọng.

- Hành trình Mùa Chay được kết thúc với Tam Nhật Vượt Qua, đặc biệt là trong đêm trọng thể Vọng Phục Sinh: khi lập lại những lời hứa trong Phép Rửa Tội, chúng ta tái khẳng định rằng Đức Kitô là Chúa tể đời sống chúng ta, đời sống mà Thiên Chúa thông ban cho chúng ta khi chúng ta được ”tái sinh bởi nước và Thánh Linh”, và chúng ta tái khẳng định quyết tâm vững vàng đáp ứng hoạt động của Ơn Thánh để làm môn đệ của Chúa.

3. ”Sự dìm mình của chúng ta trong cái chết và sự sống lại của Chúa Kitô qua bí tích rửa tội, thúc đẩy chúng ta mỗi ngày giải thoát con tim của mình khỏi gánh nặng của những sự vật chất, khỏi mối liên hệ ích kỷ với trần thế này, liên hệ ấy làm cho chúng ta trở nên nghèo nàn và ngăn cản không để chúng ta sẵn sàng và cởi mở đối với Thiên Chúa và tha nhân. Trong Đức Kitô, Thiên Chúa tự biểu lộ như Tình Thương (Xc 1 Ga 4,7-10). Thập giá của Đức Kitô, ”ngôn ngữ của Thập Giá” biểu lộ quyền năng cứu độ của Thiên Chúa (Xc 1 Cr 1,18), Đấng hiến thân để nâng cao con người và mang lại cho họ ơn cứu độ: đó là hình thức quyết liệt nhất của tình thương (Xc Thông điệp Thiên Chúa là Tình Thương, 12). Qua những việc thực hành truyền thống như ăn chay, làm phúc, cầu nguyện, là những biểu hiệu của sự dấn thân hoán cải, Mùa Chay dạy chúng ta sống tình thương của Chúa Kitô một cách quyết liệt hơn. Chay tịnh, có thể có những động lực khác nhau, đối với Kitô hữu, việc làm này có một ý nghĩa sâu xa về tôn giáo: khi làm cho bàn ăn của chúng ta nghèo hơn, chúng ta học cách vượt thắng ích kỷ để sống theo tiêu chuẩn ban tặng và yêu thương; khi chịu đựng sự thiếu thốn một cái gì đó, - không phải chỉ những gì là dư thừa mà thôi - chúng ta học cách xoay cái nhìn ra khỏi cái ”tôi” của mình, để khám phá người ở cạnh chúng ta và nhận thấy Thiên Chúa nơi khuôn mặt của bao nhiêu anh chị em chúng ta. Đối với Kitô hữu, chay tịnh không hề có chiều kích duy nội tâm nào cả, nhưng cởi mở hơn đối với Thiên Chúa và những nhu cầu của con người, và biến tình yêu đối với Thiên Chúa cũng trở thành tình yêu đối với tha nhân (Xc Mc 12,31).

Trong cuộc hành trình, chúng ta cũng đứng trước cám dỗ sở hữu, ham hố tiền bạc, làm thương tổn quyền tối thượng của Thiên Chúa trong đời sống chúng ta. Sự ham hố của cải tạo nên bạo lực, lạm quyền và chết chóc; chính vì thế, Giáo Hội, đặc biệt là trong Mùa Chay, kêu gọi làm phúc bố thí, nghĩa là chia sẻ. Trái lại sự tôn thờ của cải không những làm cho ta xa lìa tha nhân, nhưng còn làm cho con người trở nên trống rỗng, bất hạnh, bị lừa đảo, bị ảo tưởng mà không thực hiện được điều của cải hứa hẹn, vì con người đặt những sự vật chất vào chỗ của Thiên Chúa là nguồn mạch duy nhất của cuộc sống. Làm sao hiểu được lòng nhân từ hiền phụ của Thiên Chúa nếu tâm hồn đầy tự mãn và những dự phóng riêng của mình, qua đó ta tưởng rằng mình có thể đảm bảo tương lai cho mình? Cám dỗ hệ tại nghĩ như người giàu có trong dụ ngôn: ”Hồn tôi hỡi, ngươi có nhiều của cải để dùng trong nhiều năm...”. Chúng ta biết phán đoán của Chúa: ”Hỡi kẻ điên rồ, chính đêm nay mạng sống của ngươi sẽ bị đòi lại..” (Lc 12,19-20). Việc làm phúc là một lời nhắc nhở về quyền tối thượng của Thiên Chúa và sự quan tâm đối với tha nhân, để tái khám phá người Cha nhân lành của chúng ta và đón nhận lòng từ bi của Chúa.

Trong trọn Mùa Chay, Giáo Hội trao tặng chúng ta Lời Chúa một cách đặc biệt dồi dào. Khi suy niệm và nhập tâm để sống Lời Chúa hằng ngày, chúng ta học một hình thức quí giá và không thể thay thế được trong việc cầu nguyện, vì sự lắng nghe Lời Chúa, Đấng tiếp tục nói với tâm hồn chúng ta, nuôi dưỡng hành trình đức tin mà chúng ta đã bắt đầu trong ngày chịu Phép Rửa Tội. Kinh nguyện cũng giúp chúng ta có được một ý niệm mới về thời gian: thực vậy, nếu không có viễn tượng vĩnh cửu và siêu việt, thì thời gian chỉ là nhịp độ làm cho những bước tiến của chúng ta nối tiếp nhau hướng về một chân trời không có tương lai. Trái lại, khi cầu nguyện, chúng ta dành thời giờ cho Thiên Chúa, để nhận thấy rằng ”những lời của Ngài không qua đi” (Xc Mc 13,31, để bước vào trong sự hiệp thông thân mật với Ngài ”Đấng không ai có thể tước khỏi chúng ta” (Xc 16,22) và mở cho chúng ta niềm hy vọng không đánh lừa, và sự sống đời đời.

Tóm lại, hành trình Mùa Chay, trong đó chúng ta được mời gọi chiêm ngắm Mầu Nhiệm Thánh Giá, chính là ”trở nên đồng hình với cái chết của Chúa Kitô” (Ph 3,10), để thực hiện sự hoán cải sâu xa trong đời sống chúng ta, để cho hoạt động của Chúa Thánh Linh tác động, như thánh Phaolô trên đường Damasco; quyết liệt qui hướng cuộc sống chúng ta theo thánh ý Chúa; giải thoát chúng ta khỏi tính ích kỷ, vượt thắng bản năng muốn thống trị người khác và cởi mở đối với tình thương của Chúa Kitô. Mùa Chay là thời gian thuận tiện để nhìn nhận những yếu đuối của chúng ta, chân thành kiểm điểm cuộc sống để đón nhận ơn thánh canh tân của Bí tích Thống Hối và quyết liệt tiến về cùng Chúa Kitô.

Anh chị em thân mến, qua cuộc gặp gỡ bản thân với Đấng Cứu Chuộc chúng ta và qua chay tịnh, làm phúc, cầu nguyện, hành trình hoán cải tiến về Lễ Phục Sinh dẫn đưa chúng ta đến chỗ tái khám phá Phép Rửa chúng ta đã nhận lãnh. Trong Mùa Chay này, chúng ta hãy tái đón nhận Ơn Thánh mà Thiên Chúa ban cho chúng ta trong lúc này, để Ơn Thánh soi sáng và hướng dẫn mọi hành động của chúng ta. Chúng ta được mời gọi mỗi ngày sống ý nghĩa của Bí Tích Rửa Tội và những gì Bí tích này thực hiện, khi bước theo Chúa Kitô với lòng quảng đại và chân thành hơn. Trong hành trình này, chúng ta hãy phó thác bản thân cho Đức Trinh Nữ Maria, Đấng đã sinh Ngôi Lời Thiên Chúa trong đức tin và trong xác thể, để giống như Mẹ, chúng ta được dìm mình trong cái chết và sự sống lại của Chúa Giêsu Con của Mẹ, và được sống đời đời.

Vatican ngày 4 tháng 11 năm 2010
LM Trần Đức Anh OP chuyển ý
 
Tân vô thần và Thiên Chúa Thánh Kinh
Vũ Văn An
20:38 25/02/2011
Những người vô thần như Richard Dawkins coi Thiên Chúa Thánh Kinh như một quái vật luân lý. Dawkins bảo: Thiên Chúa của Thánh Kinh là người ghen tương, nhỏ mọn, bất công và ưa trả thù. Người bạn vô thần của ông ta là Christopher Hitchens cho rằng Thánh Kinh đã biện minh cho nạn buôn người, nạn nô lệ và các vụ tàn sát. Trong khi đó, Daniel Dennet mô tả Thiên Chúa như người thèm khát ca ngợi; ông cho rằng tạo dựng con người giống hình ảnh mình cho thấy Thiên Chúa là người hư danh.

Gần đây, để trả lời các luận điệu ấy, giáo sư Paul Copal đã cho xuất bản cuốn “Thiên Chúa Có Phải Là Một Quái Vật Luân Lý Hay Không?: Làm Thiên Chúa Của Cựu Ước Thành Có Nghĩa” (Is God a Moral Monster?: Making Sense of the Old Testament God) do Baker Books xuất bản.

Copal cho rằng khi dựng nên con người giống hình ảnh mình, Thiên Chúa thực sự biểu lộ lòng tốt của Người và giúp ta liên hệ với Người, biết suy nghĩ hợp lý và có óc sáng tạo. “Đó là một đặc ân chứ không phải ách nô lệ”.

Thay vì là một biểu hiện của lòng ích kỷ, việc Thiên Chúa muốn chúng ta thờ phượng Người chỉ phản ảnh ý của Người muốn chúng ta không tách rời thực tại tối hậu. Việc thờ phượng của ta nói lên ý thức của ta về chỗ đứng thích đáng của mình giữa lòng tạo vật.

Việc ta ca ngợi Thiên Chúa tự nhiên phát sinh từ tình yêu ta dành cho Thiên Chúa. Chúng ta vui khoái trước sự hiện diện của Người và nhận ra điều có giá trị tối cao đối với cuộc sống ta. Copal cũng chỉ rõ: ta thấy sự khiêm nhường của Thiên Chúa qua việc nhập thể của Chúa Kitô, Đấng đã mặc lấy bản tính con người của ta và hơn nữa, đã chết trên thánh giá vì ta.

Quái dị

Nhiều chương trong Thánh Kinh khảo sát điều các nhà tân vô thần coi là quái dị khi đề cập đến các luật về thực phẩm, nô lệ, đối xử với phụ nữ và nhiều vấn đề khác. Copal trích Tin Mừng Mátthêu 19:8, tức đoạn Chúa Giêsu giải thích việc Môsê cho phép ly dị là vì sự cứng lòng của dân. Xã hội tổ phụ, nạn nô lệ, quyền trưởng nam và các phong tục khác vốn là qui phạm của thời ấy. Luật Môsê chỉ là luật tạm thời và tuy nó có vẻ kỳ cục hay hà khắc nhưng nó đã cải thiện nhiều phong tục và cấu trúc xã hội ở Cận Đông thời đó. Thí dụ, Cựu Ước đã hạn chế hình phạt dành cho nô lệ, chứ không như tại các nước chung quanh lúc bấy giờ, nơi nô lệ hoàn toàn thuộc quyền sinh sát của các chủ nhân. Mặt khác, các nô lệ ngoại quốc trốn chủ đã tìm được nơi nương thân tại Israel.

Các bộ luật như luật Hammurabi ít có lòng kính trọng sự sống con người so với luật Môsê. Đàng khác, nhiều luật lệ còn bị giới hạn bởi những luật phụ. Thí dụ, Cựu Ước qui định án tử hình cho 16 tội phạm nhưng trong 15 trường hợp này, chánh án đều có thể tuyên những hình phạt nhẹ hơn. Thành thử, xét chung, luật Môsê ít khắc nghiệt hơn các bộ luật khác tại Cận Đông. Một điểm khác nhau nữa là giá trị của sự sống chưa sinh. Nhiều đoạn trong Cựu Ước khẳng định giá trị nội tại của đứa trẻ chưa sinh.

Bạo lực

Một số nhà tân vô thần cho rằng tôn giáo tự bản chất vốn có tính bạo động, nên người ta cần có nhiều giá trị từ Phong Trào Ánh Sáng hơn là tôn giáo. Nhưng theo Copal, ta cần tôn giáo nhiều hơn chứ không phải ít đi. Vì đức tin Thánh Kinh thực sự cổ vũ khoan dung. Thực vậy, dù có nhiều bất đồng, chúng ta vẫn khẳng định rằng mọi con người nhân bản đều đã được dựng nên giống hình ảnh Thiên Chúa. Bởi thế, Thánh Phaolô tuyên bố rằng Chúa Kitô đã phá bỏ mọi phân cách về chủng tộc, giai cấp và phái tính (Gl 3:28; Eph. 2:11-12) và mọi người chúng ta đều được mời gọi chiến thắng sự dữ bằng sự thiện (Rm 12:21).

Tuy nhiên, Copal viết thêm rằng ta cần nhớ: không phải mọi tôn giáo đều giống như nhau. Người Kitô hữu từng bị những người đa thần Rôma tôn thờ hoàng đế bách hại vì đã từ khước không chịu thờ phượng các thần minh khác. Còn về những bạo động do các nước Kitô Giáo gây ra, Copan cho rằng quả là quá đơn sơ khi giản lược các nguyên nhân vào lý do hoàn toàn có tính tôn giáo. Cần phải xét tới các ảnh hưởng xã hội và chính trị cũng như chiêu bài chính trị lợi dụng tôn giáo. Dù người ta có thể nhân danh tôn giáo mà gây chiến, nhưng đôi khi đó chỉ là chiêu bài giản tiện để biện minh cho các nguyên nhân sâu xa khác.

Chắc chắn trong thời Cựu Ước, ta bắt gặp khá nhiều thực hành đi ngược hẳn lại các lý tưởng được trình bày trong 2 chương đầu Sách Sáng Thế, là những chương khẳng định nguyên tắc bình đẳng và phẩm giá con người. Ta không buộc phải bênh vực các thực hành ấy. Nhưng có thể trưng dẫnTân Ước, nơi có những chứng tá trái ngược hẳn.

Vả lại, Thiên Chúa không áp đặt những luật lệ mà dân Do Thái chưa sẵn sàng tuân theo. Thay vào đó, Người đánh động lòng họ một cách tiệm tiến, một cách từ từ để họ dần dần đi theo con đường cải thiện luân lý. Bởi thế, khi đọc các trình thuật về việc dân Do Thái tàn sát các kẻ thù của mình, ta đâu có buộc phải biện minh các hành động đó. Các hành động này xẩy ra trong hoàn cảnh của một nền văn hóa không tiến bộ về luân lý. Hơn nữa, chúng cho thấy Thiên Chúa vẫn có thể tiến hành công trình cứu chuộc của Người giữa những bất toàn ấy.

Cựu và Tân

Giáo Hội Công Giáo đề cập tới điều vốn được gọi là những đoạn “đen tối” của Thánh Kinh trong “Verbum Domini”, tức tông huấn hậu Thượng Hội Đồng về “Lời Chúa Trong Đời Sống Và Sứ Mệnh Của Giáo Hội” công bố ngày 30 tháng 9 năm ngoái (số 41-42). Trong tông huấn này, Đức Bênêđíctô XVI giải thích rằng: Tân Ước vốn nhìn nhận Cựu Ước là Lời Chúa, và thường xuyên trích dẫn Cựu Ước cũng như dùng nó làm chứng cớ cho các luận điểm của mình. Tông huấn cũng quả quyết rằng cội rễ của Tân Ước bắt nguồn từ Cựu Ước, nơi ta nhận được của nuôi dưỡng thường xuyên. Đàng khác, Đức Giáo Hoàng nhấn mạnh rằng: giáo huấn Kitô Giáo luôn luôn cưỡng lại mưu toan đặt Cựu Ước đối đầu với Tân Ước.

Tuy nhiên, chính trong đời sống và giáo huấn của Chúa Kitô mà Sách Thánh của dân Do Thái tìm được sự ứng nghiệm, sự nên trọn của nó. Tông huấn nhấn mạnh rằng ý niệm nên trọn này là một ý niệm phức tạp với 3 chiều kích sau đây: Thứ nhất, ta có khía cạnh liên tục, rồi khía cạnh gián đoạn và sau cùng là khía cạnh siêu việt. Đức Thánh Cha viết: “Mầu nhiệm vượt qua của Chúa Kitô hoàn toàn phù hợp với các lời tiên tri và tiên báo của Sách Thánh, dù là phù hợp một cách không như dự ứng; ấy thế nhưng nó cũng trình bày nhiều khía cạnh gián đoạn một cách rõ rệt liên quan tới các định chế của Cựu Ước”. Trích dẫn Thánh Augustinô, Đức Bênêđíctô thêm rằng: “Tân Ước tiềm ẩn trong Cựu Ước, Cựu Ước tỏ hiện trong Tân Ước”.

Từng giai đoạn

Đối với những đoạn Cựu Ước tỏ ra khó hiểu do cách nó mô tả bạo lực hay vô luân, tông huấn nhắc ta nhớ rằng: mạc khải bắt rễ trong lịch sử. Lời tông huấn: “Kế hoạch của Thiên Chúa được tỏ lộ một cách tiệm tiến và được thực hiện từ từ, theo từng giai đoạn kế tiếp nhau và bất chấp sự đề kháng của con người”. Bởi thế, Thiên Chúa tự mạc khải Người trong một môi trường văn hóa và luân lý đặc thù, nơi có những sự kiện và phong tục đặc thù thịnh hành thời đó. Đó là lý do tại sao thế giới ngày nay đôi khi sững sờ trước những sự việc “đen tối” được mô tả trong Cựu Ước.

Dù thế, tông huấn vẫn nhấn mạnh rằng các tiên tri trong Cựu Ước nhất quán thách thức mọi loại bất công và đó là đường lối Thiên Chúa chuẩn bị để dân của Người tiếp nhận Tin Mừng. Đức Giáo Hoàng kết luận: “Tôi khuyến khích các học giả và mục tử giúp đỡ mọi tín hữu tiếp cận các đoạn văn này bằng một giải thích giúp họ tìm ra ý nghĩa đích thực dưới ánh sáng mầu nhiệm Chúa Kitô”. Đó là điều cần nhớ khi ta nghe nói tới đợt tấn công hời hợt của các nhà tân vô thần.

Tân vô thần và nền đạo đức Cựu Ước

Trước đó, Copal từng viết nhiều tiểu luận về đề tài trên, như bài “Giavê Có Phải Là Một Quái Vật Luân Lý Hay Không?: Các Nhà Tân Vô Thần Và Nền Đạo Đức Học Cựu Ước” đăng trên tập san Philosophia Christi, số 10/11 năm 2008.

Trong bài này, ta thấy Richard Dawkins tâm sự: ông khá thất vọng khi thấy nhiều người ngày nay vẫn xây dựng đời mình trên khuôn mẫu Giavê khủng khiếp mà còn tìm cách áp đặt khuôn mẫu đó lên người khác nữa. Lệnh của vị Chúa này buộc Ápraham sát tế con trai quả là một hành động xấu xa, rõ ràng là “ngược đãi và bắt nạt trẻ em”. Việc Người nổi trận lôi đình mỗi khi dân riêng đi thờ thần ngoại giáo chỉ là một thứ ghen tuông tính dục tồi tệ nhất. Việc Giôsuê triệt hạ Giêricô không khác gì việc Hitler xâm lăng Ba Lan hay Saddam Hussein tàn sát dân Kurds…

Ông cũng cho những truyện như ông Lót say rượu bị con gái dụ làm tình và ngủ với (St 19:31-36) quả là quái gở. Truyện Jephthah thề hứa vớ vẩn khiến con gái trở thành vật hy sinh vô nghĩa (Tl 11) cũng thế… Nhà vô thần mới xuất hiện, là Sam Harris, trong "The End of Faith", cho rằng người ta có thể tốt mà không cần có Thiên Chúa. Họ không cần Thiên Chúa hay Thánh Kinh bảo họ điều đúng điều sai. Họ biết sự thật luân lý khách quan mà không cần tới một Thiên Chúa ban hành luật lệ và họ có thể phán đoán Hitler xấu xa về luân lý mà không cần dựa vào Thánh Kinh…

Copal cho rằng lối đọc Thánh Kinh của những người tân vô thần quá giản lược. Muốn đọc đúng đắn, người ta phải kiên tâm, phải chú ý tới bản văn Cựu Ước, ngữ cảnh Cận Đông và qui điển Thánh Kinh nói chung, chứ không như lối của các nhà tân vô thần. Các kết luận của họ đều bị đa số Kitô hữu bác bỏ. Và dù tội lỗi và sự cứng lòng của con người nhan nhản trong Thánh Kinh, nhưng các soạn giả Sách Thánh luôn hướng ta về một lý tưởng luân lý cao đẹp. Nền luân lý hay đạo đức học này không phải là con đường đơn giản như nhận định của John Barton (1), cũng không phải là “tấm chăn vá víu” như nhận định của Bruce Birch (2). Chỉ có cách tiếp cận tế vi và thận trọng mới tìm ra, chứ không phải cách tiếp cận nông cạn của các nhà tân vô thần.

Trước lối tiếp cận nông cạn ấy, Copal cố gắng biện phân tâm điểm nền đạo đức học của Cựu Ước, một tâm điểm rất khác với bức biếm họa của phái tân vô thần. Thực vậy, một số các viễn tượng luân lý trong Luật Môsê (như luật liên quan đến bồi thường và mót lúa để giúp người nghèo) có thể soi sáng cho con người hiện đại chúng ta. Copal trình bày các điểm lớn sau đây:

A. Khuôn khổ trình thuật

Luật Môsê gắn chặt vào lối siêu kể truyện (metanarrative) vốn có trong Thánh Kinh mục đích để soi sáng cho các lý tưởng đạo đức mà việc giữ luật mà thôi không làm được. Thực thế, luật lệ phát sinh từ Xinai đã được lồng vào câu truyện rộng lớn hơn của Ngũ Kinh. Robin Parry, trong cuốn "Old Testament Story and Christian Ethics", cho thấy sự lầm lẫn của việc coi Luật Môsê chỉ như một bộ luật mà hoàn toàn quên mất các bản văn trình thuật không có tính luật lệ bao quanh bộ luật này. Các bộ luật thuộc ngữ cảnh Cận Đông khác như bộ luật Hammurabi rõ ràng thiếu loại trình thuật này. Giao ước Môsê (Xh 20 – Ds 10) đã được lồng vào trình thuật rộng lớn hơn của Ngũ Kinh, một trình thuật nói tới các “giao dịch” giữa Thiên Chúa và các tổ phụ và sau đó với dân Israel. Hơn nữa, nếu Chúa Kitô là cùng đích của Lề Luật, thì ta còn một ngữ cảnh qui điển rộng rãi hơn nữa để lượng định nền đạo đức học của Cựu Ước.

Ta không nên lầm lẫn cho rằng trình thuật Thánh Kinh chấm dứt tại Xinai. Luật Môsê đã được gắn liền với một khuôn khổ trình thuật rộng lớn hơn, vẫn tiếp diễn sau khi dân Israel ra khỏi Xinai. Điều đó giúp soi sáng cho cái nhìn của ta đối với luật luân lý trong Ngũ Kinh. Nói cách khác, Thiên Chúa giáo huấn dân Israel không phải bằng cách đặt để ra luật lệ hay nguyên tắc, mà là kể truyện về những người có thật và cách họ liên hệ với Đấng Dựng Nên họ và là Đấng Tạo Ra Giao Ước.

Ngoài ra, không giống các bộ luật thuộc ngữ cảnh Cận Đông khác, trong luật Môsê, ta thấy có những câu mô tả nguyên động lực (motive clauses) cho thấy lệnh truyền của Thiên Chúa đặt cơ sở trên hoạt động lịch sử của Người. Thí dụ, điều răn thứ nhất có kèm theo một lời hứa chính là điều răn này: “Hãy kính trọng cha mẹ ngươi để ngươi được sống lâu…” (Xh 20:12). Thực vậy, tự ngôn của Mười Điều Răn khẳng định hoạt động cứu rỗi của Thiên Chúa trong lịch sử: “Ta là Chúa, Thiên Chúa của ngươi, Đấng đã đem ngươi ra khỏi đất Ai Cập, ra khỏi nhà nô lệ. Ngươi sẽ không có chúa nào khác ngoài Ta” (Xh 20:2-3). Hay, “Hãy nhớ ngày Sabát mà giữ cho nó thánh thiện… vì trong 6 ngày, Thiên Chúa đã tạo nên trời đất… nhưng Người đã nghỉ ngơi vào ngày Sabát” (Xh 20:8-11). Những câu diễn tả nguyên động lực đó đã được đặt vào bối cảnh cứu chuộc và thuật truyện của Israel.

Dân Israel được truyền lệnh phải mô phỏng Giavê, Đấng vốn hành động trong lịch sử và nhờ hành động như thế, đã tạo mẫu mực cho họ. Ngược lại, những bộ luật như bộ luật Hammurabi không bao giờ được động lực hóa bằng các biến cố lịch sử. Chúng được ban hành bởi các ông vua phàm trần dù được thần minh chứng giám. Không giống như vương quyền trong ngữ cảnh Cận Đông, việc Thiên Chúa cai trị không đòi phải có sự đại diện của người phàm. Nghĩa là, theo lối thuật truyện của Thánh Kinh, luật được chính Thiên Chúa của Israel đích thân mạc khải. Có một điểm hiển nhiên ở đây: hành động trong lịch sử của Thiên Chúa, nhất là việc Người giải phóng Israel khỏi ách nô lệ của Ai Cập, đã phát sinh ra nguyên động lực cho việc Israel đối xử với nô lệ, ngoại kiều và những người kém may mắn trong lãnh thổ của họ. Không có ngữ cảnh lịch sử ấy, khó mà giải thích được sự nhấn mạnh này.

Một điểm khác được Copal nhấn mạnh là những thông sáng và gương sáng của nền luân lý trình thuật này có tính nền tảng hơn là chính luật lệ pháp lý. Richard Hay viết về Tân Ước như sau: “Các trình thuật có tính nền tảng hơn bất cứ diễn trình trừu tượng hóa nào nhằm tinh lọc ý nghĩa đạo đức học của chúng” (3). Nghĩa là, ta hiểu rõ các lệnh truyền hay hướng dẫn có tính trừu tượng hơn trong Tân Ước nhờ quan sát những gì xẩy ra trong các trình thuật lịch sử. Các trình thuật này giúp minh họa các tư liệu của phần giáo huấn.

Cũng thế, các trình thuật lịch sử trong Cựu Ước thường trình bày các khuôn thước gương mẫu đang hành động. Các khuôn mẫu này khiến các phán đoán luân lý trở thành thông sáng, cho thấy rõ sự biện phân, cũng như trình bày cho ta cả sự chính trực lẫn lòng say mê đối với Thiên Chúa. Theo John Barton, khuôn mẫu đạo đức Cựu Ước nhấn mạnh tới việc mô phỏng Thiên Chúa (imitatio Dei), tới luật tự nhiên, và vâng theo ý muốn do chính Thiên Chúa nói ra (4). Và ta thấy rõ: trình thuật nằm dưới và thẩm thấu mọi chủ đề trên.

Copal nhấn mạnh: không như các nhà tân vô thần, ta không nên tiếp cận Luật Môsê như một bộ luật luân lý tách rời khỏi ngữ cảnh kể truyện và qui điển của nó, như thể bộ luật này mang tới một nền đạo đức học tối hậu mà ta không còn gì khác để xem sét. Và mặc dù vẫn có những gương mù về luân lý như các nhà tân vô thần chỉ ra, nhưng không thiếu những tấm gương tích cực như sự quên mình và lòng đại lượng của Ápraham đối với Lót (St 13), sự vẹn toàn luân lý và trong sạch tính dục của Giuse cũng như lòng nhân từ đáng ngạc nhiên của ông đối với những người anh em mưu hại mình (St 39, 45, 50)… Về vấn đề chủng tộc, đành là người Do Thái có phân biệt nô lệ Do Thái với nô lệ không phải là Do Thái, tha nợ cho người Do Thái chứ không tha cho ngoại kiều (Đnl 15:3)… Nếu chỉ dừng ở những trường hợp này là bỏ qua các trình thuật khác của Ngũ Kinh cho thấy Thiên Chúa quan tâm tới việc đem phúc lành lại cho toàn thể nhân loại (St 12:1-3), việc Người dựng nên mọi người theo hình ảnh Người để cùng với Người cai quản tạo vật (St 1:26-27; Tv 8), không như não trạng Cận Đông, chỉ coi vua là người giống Thiên Chúa. Hình ảnh Thiên Chúa ấy thiết lập ra sự bình đẳng nền tảng cho mọi con người, bất chấp chủ nghĩa quy chủng tộc (enthocentrism) cũng như tục lệ nô lệ tại Israel. Ngoài ra, trình thuật ở Dân Số 12 cho thấy rõ viễn ảnh thần học về chủng tộc: Môsê cưới một phụ nữ da đen người Cush/Ethiopia, phía nam và dưới quyền kiểm soát của Ai Cập. Aaron và Miriam phản đối việc đó. Nhưng Thiên Chúa lại chấp nhận việc đó bằng cách phạt Miriam mắc bệnh cùi, da trắng như tuyết (tương phản trắng đen!).

Vượt quá Ngũ Kinh, các chủ đề trên vẫn tiếp diễn: ba bày tôi của Đavít tỏ lòng trung thành và hy sinh quên mình, bất chấp nguy hiểm đến mạng sống, quyết đem nước cho nhà vua từ Bêlem (2 Sm 23); Đavít từ khước không chặt đầu Vua Saun khi có dịp (1Sm 24); Nathan dám chạm trán với Đavít về tội giết người và gian dâm (2 Sm 12); Êlia thách thức Ahab về tội giết Naboth (1 V 21)… Nhất là lịch sử Israel cho thấy một Thiên Chúa luôn biết cúi xuống và đoái thương, luôn trung thành chu toàn lời hứa của mình bất chấp lòng bất trung của dân: truyện con bò vàng là một bằng chứng (Xh 32) không như luận chứng ghen tuông của Dennett. Người luôn nhớ giao ước và lời mình hứa.

Theo Copal, đọc Cựu Ước, ta khám phá ra một ethos (một môi trường luân lý) như Eckart Otto quả quyết, chứ không phải một Ethik (chỉ là những huấn lệnh luân lý) (5). Những câu truyện và mẫu sống trong qui điển Cựu Ước nhắc ta nhớ rằng các bộ luật và việc chấp hành qui luật mà thôi không đủ. Đúng hơn, ta thấy trong đó một tinh thần hướng dẫn Israel tới những cơ sở luân lý và tâm linh cao hơn.

Copal cũng đề cập đến cái nguy hiểm của việc lẫn lộn giữa “là” với “phải là” (from “is” to “ought”). Một điểm cần chú ý là các soạn giả Cựu Ước không muốn đưa ra phê phán luân lý trong các câu truyện của họ. Đavít chẳng hạn không được mô tả như gương sáng (exemplum) mà như một pha trộn xấu tốt, giống các thảm kịch Hy Lạp, trong đó, người anh hùng nào cũng có những thiếu sót hết sức lớn lao của họ. Gideon và Salomon cũng thế, từng được các soạn giả vạch hết những phẩm tính đáng nghi ngại về lãnh đạo và thỏa hiệp tâm linh của họ. Rõ ràng các nhà tân vô thần đã sai lầm trong nhận định của họ, cho rằng nếu các sai lầm đó có trong Thánh Kinh thì rõ ràng là soạn giả Thánh Kinh chấp nhận chúng. Những cái “là” trong Thánh Kinh không tạo ra những cái “phải là” trong đó. Các mô tả trong Cựu Ước không nhất thiết có tính qui phạm. Hơn nữa, tư cách anh hùng dành cho Ápraham, Môsê và Đavít không hẳn vì sự hoàn hảo luân lý của họ mà chỉ vì quyết tâm không khoan nhượng của họ đối với chính nghĩa của Giavê và lòng tín thác của họ vào lời Thiên Chúa hứa, hơn là rơi vào ngẫu thần của biết bao người cùng thời với họ.

B. Khung cảnh Cận Đông

Phải đặt cuộc tranh luận về đạo đức học trong ngữ cảnh Cận Đông, chứ không phải ngữ cảnh hậu Ánh Sáng. Mà khung cảnh Cận Đông là một khung cảnh khắc nghiệt, tàn bạo. Khung cảnh đó hoàn toàn xa lạ, hoàn oàn không giống khung cảnh xã hội của ta hiện nay. Thế giới Cận Đông là thế giới của nô lệ, đa thê, chiến tranh, cơ cấu tổ phụ, quyền vua, chủ nghĩa quy chủng tộc… Muốn phê phán đạo đức học Cựu Ước, phải nhìn nhận các trở ngại do sự kiện các bản văn này bắt rễ từ một ngữ cảnh văn hóa hoàn toàn khác với ngữ cảnh của chúng ta, với những giả định và phạm trù luân lý xa lạ và đôi khi ghê tởm đối với cảm quan ta hiện nay.

Các nhà tân vô thần cũng sai lầm khi coi các phạm trù Cận Đông bên trong Luật Môsê như những đỉnh cao về luân lý của Thánh Kinh. Thực ra, chúng chỉ là những bàn nhún (springboard) hướng tới những khai triển mới hơn hay đúng hơn nhẩy trở lui các lý tưởng luân lý cao đẹp hơn của Sáng Thế 1 và 2 và ngay cả 12. Các lý tưởng này khẳng định hình ảnh Thiên Chúa trong mỗi con người, hôn nhân đơn hôn suốt đời, và Thiên Chúa quan tâm tới mọi dân tộc. Hệ luận của những đoạn văn nền tảng ấy thật vô cùng lớn lao.

Điểm thứ hai, từng bước nhân bản hóa chứ không hoàn toàn từ bỏ các dữ kiện văn hóa Cận Đông. Thực thế, thay vì biện minh về luân lý cho mọi khía cạnh của luật Xinai, chúng ta chỉ quả quyết rằng Thiên Chúa đã khởi sự với một dân tộc cổ xưa lúc ấy đang thấm nhiễm nhiều phong tục và cấu trúc xã hội bất nhân của ngữ cảnh Cận Đông. Người muốn từ từ lôi cuốn họ vào và chỉ cho họ thấy một con đường tốt đẹp hơn: Nếu phải đối xử với những con người nhân bản như những con người nhân bản, nghĩa là những chủ thể có khả năng lựa chọn, thì “con đường tốt đẹp hơn” hẳn phải tới từ từ. Nếu không, họ sẽ dùng tự do lựa chọn của họ mà quay lưng đối với những gì họ không hiểu.

Vứt bỏ hoàn toàn các thái độ Cận Đông đã đâm rễ, thay thế chúng bằng các lý tưởng của thời hậu Ánh Sáng, một thứ đạo đức không tưởng sẽ quá ư tràn ngập khiến họ khó lòng nắm được. Hãy nghĩ tới những áp lực dân chủ do Tây Phương áp đặt lên các nước mà cấu trúc bộ lạc, xã hội và tôn giáo chưa cho phép họ sẵn sàng tiếp nhận. Ngay như những chính sách bình đẳng chủng tộc ở Mỹ cũng chưa hẳn đã hoàn toàn được chấp nhận. Bằng chứng là vẫn còn những nhóm Ku Klux Klan. Alden Thompson rất đúng khi nói rằng Thiên Chúa tiệm tiến nhân bản hóa các cấu trúc Cận Đông bên trong Israel để giảm thiểu sự tàn bạo và nâng cao địa vị nô lệ và phụ nữ, dù các phong tục ấy không hoàn toàn bị loại trừ (6). Bởi thế, khi Giôsuê giết 5 vị vua của Canaan và bêu xác của họ lên cây suốt ngày (Gs 10:22-27), thì ta đâu có cần phải bào chữa hay biện minh cho hành động ấy. Đúng hơn, nó phản ảnh một tình trạng dã man về luân lý. Tuy thế, các bản văn này vẫn nhắc ta nhớ rằng Thiên Chúa vẫn dùng những anh hùng như Giôsuê ngay trong ngữ cảnh của họ để thực hiện các mục tiêu cứu vớt của Người bất chấp các thiếu sót của họ… Suốt trong Cựu Ước, ta thấy một Thiên Chúa hết sức nhẫn nại tìm cách kêu mời và gây ảnh hưởng đối với một dân tộc ương ngạnh và ưa thờ ngẫu thần. Vả lại, không nên quên nhiều khía cạnh tích cực trong Cựu Ước.

Copal sau đó tương phản các cải thiện luân lý của Luật Môsê với các bộ luật thuộc ngữ cảnh Cận Đông, nhất là bộ luật nổi tiếng Hammurabi (1750 trước công nguyên) và luật Hittite (1650-1200 trước công nguyên). Hiển nhiên có những chủ đề song hành và chùm phủ lên nhau giữa Luật Môsê và các bộ luật này như luật về bội thề hay làm chứng gian (xem Đnl 19:16-21), án tử cho tội giết người (Xh 21:12)… Sách Châm Ngôn sử dụng và thích ứng nhiều câu nói và châm ngôn của cuốn "Instruction of Amenemope" của Ai Cập. Hình thức ký giao ước giữa Thiên Chúa và dân của Người cũng chịu ảnh hưởng nặng của của ngữ cảnh Cận Đông (Hittite).

Nhưng những khác biệt thì khá lớn giữa luật của ngữ cảnh Cận Đông và luật của Thánh Kinh: a) một bên là luật thế tục ngược với bên kia là luật thờ phượng tôn giáo; b) luật bởi vua chúa ngược với luật do Thiên Chúa ban hành qua trung gian Môsê; (c) luật để tôn vinh vua chúa ngược với luật để tôn vinh Thiên Chúa và để giáo huấn dân và lên khuôn đặc điểm quốc gia; (d) luật phản ảnh thẩm quyền vô giới hạn của vua chúa ngược với luật nhằm giới hạn thẩm quyền của vua chúa (Đnl 17:14-20)… Cũng nên thêm rằng: luật DoThái liên quan tới sự thánh thiện của đời sống hơn hẳn luật Lưỡng Hà.

Nhưng đâu là các cải thiện có tính đặc trưng? Về nạn nô lệ, ta thấy ở Israel, nô lệ được dành nhiều nhân quyền và pháp quyền hơn tại các xã hội kia. Ai bắt cóc một người để bán làm nô lệ sẽ bị tử hình (Xh 21:16). Luật Hammurabi lên án tử hình cho những ai giúp nô lệ trốn thoát trong khi người Do Thái dành nơi trú ẩn an toàn cho nô lệ ngoại quốc trốn thoát (Đnl 23:15-16). Nô lệ Do Thái được trả tự do vào năm thứ 7 (Lv 29:35-43) hơn hẳn bất cứ luật nào thuộc ngữ cảnh Cận Đông. Nguyên động lực của nó là sự kiện “các ngươi vốn là nô lệ tại đất Ai Cập, và Chúa là Thiên Chúa ngươi đã chuộc lại ngươi” (Đnl 15: 12-18). Gióp coi mình và các nô lệ đều có chung một Đấng Hóa Công và cùng từ lòng mẹ sinh ra (G 31:15). Thật trái với nhận định của những người như Sam Harris lầm lẫn tố cáo Cựu Ước chủ trương buôn người và đối xử với nô lệ như dụng cụ làm vườn.

Về nền luân lý tính dục, luật thuộc ngữ cảnh Cận Đông cho phép người ta có liên hệ ngoại tình với nô lệ và đĩ điếm. Luật Hittite cho phép hành dâm với thú vật. Về hình phạt thể chất, luật thuộc ngữ cảnh Cận Đông rất hà khắc: đối với một số tội phạm, luật Hammurabi cho phép cắt lưỡi, ngực, tay và tai, hay bị trâu bò kéo lê quanh cánh đồng. Luật Ai Cập cho phép đánh phạm nhân tới 200 đòn, trong khi Đệ Nhị Luật 25:1-3 chỉ cho phép đánh tới 40 đòn, lý do “để người anh em khỏi bị hạ nhục trước mắt ngươi”. Nhưng còn luật mắt đền mắt, răng đền răng thì sao? Nhiều người cho là tàn ác qua hình thức hủy hoại thân xác người phạm tội. Nhưng thực ra, nghiên cứu kỹ những đoạn này (Xh 21: 23-25; Lv 24:17-22; Đnl 19:16-21), ngoại trừ trường hợp mạng đền mạng, các trường hợp khác không được hiểu theo nghĩa đen, mà theo nghĩa bồi thường bằng hiện kim.

Luật Môsê sở dĩ phức tạp và nghiêm ngặt là vì nó được đưa ra để đối phó với sự bất tuân của Israel. Giống một đứa bé ưa nổi loạn cần có những qui định nghiêm ngặt cho tới lúc nó chịu thay đổi tác phong thế nào, thì Israel, một dân tộc hay nổi loạn, phá vỡ giao ước, vốn thấm nhiễm não trạng văn hóa kém phát triển của khu vực Cận Đông, cũng cần phải có thật nhiều các luật lệ nghiêm khắc như vậy.

Thực ra, John Sailhamer (7) cho rằng Thiên Chúa vốn không muốn dùng giai cấp tư tế làm trung gian, mà Người muốn toàn dân Israel trực tiếp tiếp cận Người như là vua tư tế (priest-kings) (Xh 19:6), trực tiếp lên núi gặp Người. Nhưng chính dân cưỡng lại điều đó, khẩn khoản yêu cầu Môsê lên núi thay họ. Do đó, luật lệ đầu tiên của Thiên Chúa trên núi Xinai là một đạo luật không kềnh càng dành cho dân (Xh 21-23) và một đạo luật đơn giản khác dành cho tư tế (Xh 25-31:8). Thế rồi, vì sự thiếu sót của thượng tế Aaron trong biến cố bò vàng (Xh 32) và của dân trong việc thờ ngẫu thần dê (Lv 17:1-9), Thiên Chúa đã lần lượt đưa ra nhiều ngăn cấm, giới hạn hết sức nghiêm ngặt và phức tạp cho hàng tư tế (Xh 35-Lv 16) và cho toàn thể dân Israel (Lv 17:10 – 26:46), những giới hạn mà Thánh Phêrô gọi rất đúng là “ách mà cả cha ông chúng ta lẫn chúng ta không mang nổi” (Cv 15:10). Chúng không phải là lý tưởng của Chúa. Chính Israel đã muốn có những cái ách ấy.

Giêrêmia 7:2 nói rất rõ: “Ngày Ta mang chúng ra khỏi đất Ai Cập, Ta đâu có nói với cha ông các ngươi hay truyền lệnh cho họ về lễ toàn thiêu hay hy lễ. Nhưng ta chỉ cho chúng mệnh lệnh này: ‘Hãy vâng theo tiếng nói của Ta, và Ta sẽ là Thiên Chúa của các ngươi và các ngươi sẽ là dân của Ta’. Thư Galát 3:19 cũng nói như thế: “Như thế tại sao cần có Luật? Luật được thêm vào vì sự vi phạm của dân”. Luật, như thế, là một nét tạm thời cho tới khi có giao ước mới với Chúa Kitô (Gl 3:22).

Vả lại, mỗi giai đoạn trong lịch sử Israel đòi hỏi một nền đạo đức khác, dù Cựu Ước vẫn cung cấp cho ta những thông sáng luân lý trường cửu. John Goldingay, trong cuốn "Theological Diversity and the Authority of the Old Testament" (8) cho thấy Israel đã trải qua các giai đọan lịch sử sau đây: từ một dòng tộc du mục (mishpachah [St 10:31-2]), họ tiến qua một dân tộc thần trị (am [Xh 1:9; 3:7] hay goy [St 12:2; Tl 2:20]), rồi một thể chế quân chủ, một nhà nước định chế, hay một vương quốc (mamlakah [1 Sm 24:20; 1 Sb 28:5]), rồi một thiểu số sống sót tang thương (sheerith [Gr 42:4; Edk 5:10]), và sau cùng một cộng đồng hậu lưu đày hay một cộng đồng của lời hứa (qahal [Er 2:64; Nkm 13:1]). Thời du mục, Ápraham và các tổ phụ ít can dự việc chính trị, dù thế, Ông vẫn phải chiến đấu để cứu Lót (St 14), từ khước bổng lộc của các ân nhân chính trị. Nhờ giao ước, Giavê là Đấng che chở và là nhà cung ứng cho các tổ phụ.

Tiếp đến là hơn 400 năm chờ đợi và chịu ách nô lệ tại Ai Cập. Giavê giải phóng họ, giúp họ sống thành quốc gia và ban cho họ một thứ thần trị, tức một môi trường vừa có tính tôn giáo vừa có tính xã hội và chính trị. Một quốc gia dĩ nhiên cần một lãnh thổ, thế là có chiến tranh. Về cuộc chiến tranh này, Copal nhận định: Israel không có cách chi biện minh cho cuộc tấn công chống người Canaan nếu không có Thiên Chúa đích thân truyền cho họ làm việc ấy. Lý do khiến Thiên Chúa ra lệnh như vậy hoàn toàn có tính luân lý: a) sự xấu xa không tài chữa nổi của nền văn hóa Canaan; b) đến nỗi không được liên minh chính trị hay kết hôn với họ (triệt hạ tôn giáo Canaan quan trọng hơn triệt hạ người Canaan); c) ngôn từ triệt hạ trong Giôsuê: “ông không để ai sống sót” và “hoàn toàn tiêu diệt bất cứ sinh vật nào có hơi thở” (10:40) chỉ là những ngoa ngữ, vì ở những chỗ khác vẫn ngầm cho thấy nhiều người Canaan còn sống sót, như lời cảnh báo sau đây: “Nhưng nếu anh em phản bội Chúa và gắn bó với những dân còn sót lại đang ở với anh em đó… thì hãy biết chắc: Thiên Chúa của anh em sẽ không tiếp tục trục xuất chúng, chúng sẽ thành dò lưới và cạm bẫy hại anh em…” (23:12-13). Cho nên, Giôsuê 9-12 cũng chỉ sử dụng lối hành văn ước lệ của Cận Đông khi nói về chiến tranh.

C. Sắc thái luân lý và tâm linh cũng như một tinh thần cứu chuộc hơn là luật pháp

Cựu Ước cho thấy một sắc thái luân lý và tâm linh ấm áp cũng như một tinh thần cứu chuộc, thúc đẩy Israel hướng tới một lý tưởng cao đẹp hơn là luật pháp. Luật Môsê, dù tốt hơn so với luật của ngữ cảnh Cận Đông, nhưng cũng không phải là một lý tưởng. Nó chỉ nói lên lòng khoan nhượng của nhà làm luật. Đơn cử trường hợp đa hôn. Tại sao Thiên Chúa không thẳng thừng ngăn cấm đa hôn? Wenham cho rằng đa hôn được làm ngơ có lẽ vì đơn hôn khó có thể được chấp pháp (9). Hơn nữa, các soạn giả Thánh Kinh thường có tác phong “hy vọng ở một tác phong tốt hơn” như Ngũ Kinh nhấn mạnh ngay từ đầu (St 2:24), khi nói tới “người vợ” hay “cha và mẹ” số ít. Ta cũng thấy Thánh Kinh thường mô tả đa hôn như một thực hành không tốt: “Vua ấy cũng không được có nhiều vợ, kẻo tâm hồn bị lầm lạc” (Đnl 17:17). Salômôn là ông vua không vâng nghe lời này và do đó “lòng vua ra hư hỏng” (1V 11:3). Lý tưởng vì thế vẫn là đơn hôn như thuở ban đầu (St 2:24), được Hôsê, Giêrêmia 3:18 và Malaki 2:16 nhắc lại. Các soạn giả Thánh Kinh mong dân Chúa nhận ra điều ấy và sống theo lý tưởng này.

Vả lại, muốn hiểu rõ luật lệ Môsê, ta không nên quên nguyên tắc “cứng lòng” và nguyên tắc “chịu đựng”. Chúa Giêsu, trong Mt 19, đã đề cập rõ nguyên tắc “cứng lòng” này khi bình luận về ly thư mà Môsê truyền cho người chồng viết để ly dị vợ: chỉ vì các ông cứng lòng, mà Môsê đã cho phép điều đó. Nhưng từ khởi thủy vốn không như thế! Nguyên tắc này dĩ nhiên áp dụng cho nhiều vấn đề khác: tinh thần tổ phụ, đa hôn, nô lệ, quyền trưởng nam và cả chiến tranh là những thực hành hết sức quen thuộc trong ngữ cảnh Cận Đông. Cách tiếp cận của Chúa Giêsu cho ta thấy có một đạo đức học đa bình diện (a multilevel ethic) với yếu tố cứu chuộc trong đó. Nói cho ngay, ly thư cũng là biện pháp bảo vệ người vợ, giúp nàng cơ hội tái hôn hợp pháp để tránh cảnh túng quẫn và xỉ nhục. Luật này có quan tâm tới phúc lợi của người vợ, tuy nhất định không phải là một lý tưởng đạo đức.

Nguyên tắc “chịu đựng” là về phía Thiên Chúa. Thư Rôma (3:25) cho hay: “Trước kia, trong thời Thiên Chúa nhẫn nại, Người đã bỏ qua các tội lỗi người ta phạm”. Nói với dân thành Nhã Điển, Thánh Phaolô cũng cho họ hay: “Vậy mà Thiên Chúa nhắm mắt bỏ qua những thời người ta không nhận biết Người” (Cv 17:30). Hai nguyên tắc này luôn đi đôi với nhau trong diễn trình dẫn Israel tới một lý tưởng cao hơn.

Nét “kìm hãm” hơn là “lý tưởng” trong luật Môsê chính là một phần trong chiều hướng cứu chuộc và thúc đẩy luân lý đầy ấm áp của Thánh Kinh. Đọc Thánh Kinh một cách nghiêm túc, ta sẽ thấy một nền luân lý bất toàn đang tiến bước ở bề mặt trong khi các dòng luân lý lý tưởng vẫn tiếp tục chẩy ở phía dưới: hình ảnh Thiên Chúa nơi mọi con người, hôn nhân đơn hôn suốt đời, và Giavê quan tâm tới mọi dân tộc. Giavê luôn tái điều hướng dân của Người về phương diện luân lý, thần học và tâm linh để họ thoát ra ngoài não trạng văn hóa bao quanh. Một đàng, Người không hoàn toàn phá bỏ những thực hành đáng nghi vấn của nền văn hóa Cận Đông, nhưng đàng khác luật lệ Israel cho thấy có sự cải thiện đáng kể nhằm nhân bản hóa các thực hành ấy. Luật về nô lệ chẳng hạn, như trên đã nói, có nhiều cải tiến dựa trên nguyên động lực: các ngươi vốn cũng là nô lệ! Hành động Thiên Chúa cứu vớt Israel khỏi nô lệ hiển nhiên là khuôn thước cho tác phong Israel đối với nô lệ của họ.

Người cũng sẵn sàng thích ứng các cấu trúc của ngữ cảnh Cận Đông khi con người tìm cách thay đổi nó dưới ánh sáng của lý tưởng luân lý. Như Dân Số 27:1-11, khi nói về gia tài cho con gái, đã chứng tỏ. Các con gái của Zelophehad, vì các hoàn cảnh đặc biệt của nữ giới, đã khiếu nại với Môsê về luật thừa kế quá thiên về nam giới. Môsê trình Giavê vấn đề này, và khiếu nại của họ được giải quyết. Trước đó, luật về quyền trưởng nam cũng từng được “thích ứng”: Abel được ưa hơn Cain, Ixaác hơn Ismael, Giacóp hơn Êsau, Giuse/Giuđa hơn Reuben. Nhờ thế mà ta có một nền đạo đức cách mạng và dân chủ hơn, dù chưa lý tưởng nhưng hơn hẳn các luật lệ Cận Đông lúc ấy. Chúa Giêsu sau này cũng đề cập tới tinh thần cứu chuộc ẩn chứa trong Cựu Ước: Người dùng việc Đavít lấy bánh hiến của tư tế để biện hộ cho việc môn đệ của Người ngắt lúa vào ngày Sabát vì đói (Mc 2:24-27).

Tóm lại, luật Môsê chứa mầm mống phát triển luân lý và là những đốm sáng dẫn con người tới một ngả đường luân lý trong sáng hơn. Nó cho thấy Thiên Chúa vô cùng nhẫn nại với con người. Sự nhẫn nại ấy thật khác xa với lời kết tội của các nhà tân vô thần coi Người như thiếu kiên nhẫn, hay ghen tuông, dễ bị khiêu khích. Người chính là lý tưởng của con người: “hãy thánh thiện vì Ta, Chúa và Thiên Chúa ngươi, là Đấng Thánh Thiện” (Lv 19:2). Hành động cứu vớt của Người là tấm gương cho họ noi theo: Người là “Đấng xử công minh cho cô nhi quả phụ, và yêu thương ngoại kiều, cho họ bánh ăn áo mặc. Anh em phải thương yêu ngoại kiều, vì anh em đã từng là ngoại kiều ở đất Ai Cập (Đnl 10:18-19).

Mẫu mực tính tình và hành động cứu vớt của Giavê bàng bạc trong luật lệ Israel. Điều ấy được Christopher Wright (10) gọi là sắc thái cảm thương trong Luật, sắc thái này không thể giản lược vào một bộ luật, nhưng bao hàm một điều gì đó sâu sắc hơn, điều mà Mignon Jacobs gọi là “nền thần học quan tâm đối với người kém may mắn” (11). Tính tình và hoạt động của Thiên Chúa mang lại cho dân Chúa và toàn thể nhân loại một tầm nhìn luân lý rõ ràng. Các nhà tân vô thần đã không khám phá ra khía cạnh này.

Sau cùng, không nên quên điều này: luật Môsê dẫn đến sự hoàn thành, nên trọn trong Chúa Kitô. Nó không phải là lời sau cùng. Một giao ước mới sẽ tới, trong đó, Luật sẽ được viết trong trái tim. Nếu chỉ dừng lại ở Cựu Ước mà thôi, thì cái đọc của ta sẽ hết sức nghèo nàn

Ghi Chú

(1). John Barton, Ethics and the Old Testament (Harrisburg, PA: Trinity Press International, 1998), 7. Xem Brevard S. Childs, Biblical Theology in Crisis (Philadelphia: Westminster, 1970), 125, trong đó ông nhận định rằng nền đạo đức học Thánh Kinh không có những câu trả lời rõ ràng (clear-cut).

(2). Bruce C. Birch, Let Justice Roll Down: The Old Testament, Ethics, and Christian Life (Louisville, KY: Westminster John Knox Press, 1991), 36.

(3). Richard B. Hays, The Moral Vision of the New Testament (San Francisco: Harper SF, 1996), 295;

(4). John Barton, Understanding Old Testament Ethics: Approaches and Explorations (Louisville, KY: Westminster John Knox, 2003).

(5). Eckart Otto, Theologische Ethik des Alten Testaments (Stuttgart: Kohlhammer, 1994).

(6). Alden Thompson, Who's Afraid of the Old Testament God? (Grand Rapids, MI: Zondervan, 1988), 32.

(7). Sailhamer, The Pentateuch as Narrative, 46-59; xem thêm Sailhamer, Introduction to Theology, 272-89.

(8) Xem Goldingay, Theological Diversity and the Authority of the Old Testament, chương 3.

(9). Wenham, Story as Torah, 86.

(10). Wright, Old Testament Ethics, 300.

(11). Mignon R. Jacobs, "Toward an Old Testament Theology Concern for the Underprivileged," trong Reading the Hebrew Bible for the New Millennium: Form, Concept, and Theological Perspective, vol. 1, Theological and Hermeneutical Studies, Studies in Antiquity and Christianity, Wonil Kim và nhiều người khác chủ biên (Harrisburg, PA: Trinity Press International, 2000), 205-29.
 
Tin Giáo Hội Việt Nam
Lễ thánh hiến nhà thờ giáo xứ Tiên Lục GP Bắc ninh
Xương Giang
11:10 25/02/2011
BẮC NINH: Vào lúc 9g00 sáng ngày 25/2/2011 (ngày 23 âm lịch), cho dù trời mưa xuân u ám, nhưng hàng ngàn người vẫn không quản ngại mưa gió đến với ngôi thánh đường vừa mới hoàn thành của giáo xứ Tiên Lục thuộc giáo phận Bắc để chia vui cùng với giáo xứ và tham dự lễ thánh hiến ngôi thánh đường.

Xem hình ảnh

Chủ sự lễ thánh hiến ngôi thánh đường giáo xứ Tiên Lục là đức cha Cosma Hoàng Văn Đạt, giám mục giáo phận Bắc ninh, đến tham dự thánh lễ còn có cha tổng đại diện Giuse Trần Quang Vinh, quý cha, qúy tu sĩ nam nữ trong và ngoài giáo phận Bắc ninh.

Ngỏ lời với cộng đoàn trong bài giảng, đức cha chia vui với giáo xứ vì đã xây dựng được ngôi thánh đường mới, khang trang và xứng đáng làm nơi Chúa ngự. Tuy nhiên, ngài nhắc nhở cộng đoàn hãy xây dựng ngôi đền thờ quan trong hơn, đó chính là thân thể mỗi người, vì chính thân thể chúng ta là những chi thể trong một thân thể duy nhất là Chúa Kitô và là đền thờ của Chúa Thánh Thần.

Đức cha nhắc đến cây Dã hương nghìn năm tuổi nổi tiếng của Tiên lục đã luôn tỏa hương thơm để mang lại sức khỏe hàng ngàn năm nay cho người dân trong vùng và kêu mời người Kitô hãy tỏa hương thơm Tin Mừng cho những người xung quanh, đặc biệt là cho những ai chưa biết Chúa.

Ngoài ra, ngài còn kêu mời mỗi gia đình Kitô hữu nên có một cuốn Kinh Thánh và mỗi người giáo dân hãy có một cuốn Tân Ước nhỏ để đọc và suy ngẫm hàng ngày, qua đó đời sống đức tin của mỗi người Kitô sẽ được nuôi dưỡng và phát triển không ngừng.

Cuối thánh lễ, một vị ban hành giáo đại diện cho giáo xứ cám ơn đức cha, quý cha, quý tu sĩ năm nữ, quý khánh và toàn thể cộng đoàn đã không quản ngại trời mưa gió đến chia vui và cầu nguyện cho giáo xứ trong ngày lễ thánh hiến ngôi thánh đường mang tước hiệu “Đức Mẹ Dâng Chúa Giêsu trong Đền Thờ”.

Xin chúc mừng giáo xứ Tiên Lục đã có được ngôi thánh đường mới.

Đôi nét về giáo xứ Tiên Lục:

Tiên Lục là giáo xứ miền trung du nằm ở xã Tiên Lục, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang cách tòa giám mục Bắc ninh 50 km về hướng Đông Bắc.

Nhắc đến Tiên Lục, phải nói đến cây Dã hương cổ thụ nghìn năm tuổi có một không hai trên thế giới. Cây Dã hương nghìn năm tuổi là niềm tự hào biết bao nhiêu thế hệ và đã trở thành biểu tượng linh thiêng của nhiều người dân trong vùng.

Người dân của giáo xứ Tiên Lục đã đón nhận Tin mừng được gần 200 năm. Hạt giống Tin Mừng đã bám rễ sâu vào vùng đất Tiên Lục và đã không ngừng sinh hoa kết trái. Hiện nay, giáo xứ Tiên Lục có 1389 nhân danh, có một linh mục đang phục vụ trong giáo phận Bắc ninh và hơn 10 nữ tu đang phục vụ trong và ngoài giáo phận.

Tin mừng đã được gieo vào giáo xứ Tiên Lục cách đây gần 200 năm, nhưng cho mãi đến tận năm 1928 (thời cha Thuần coi sóc Tiên Lục) thì giáo họ Tiên Lục mới bắt đầu khởi công xây dựng ngôi thánh đường khang trang bề thế so với thời bấy giờ và cho đến tận năm 1942 (thời cha Liêm coi sóc) thì ngôi thánh đường này mới được hoàn thành. Tuy nhiên, cho đến nay ngôi thánh đường xây dựng bằng vôi vữa và lợp ngói đã xuống cấp trầm trọng.

Cuối năm 2009, được phép của bề trên giáo phận, toàn thể giáo dân giáo xứ Tiên Lục một lòng một ý, đóng góp tiền của, công sức và bắt đầu xây dựng ngôi nhà thờ mới. Chỉ sau đúng 18 tháng 3 ngày, ngôi thánh đường mới khang trang bề thế đã hoàn thành và được đức cha giáo phận về thánh hiến vào ngày hôm nay (25/2/2011) và lấy tước hiệu là “Đức Mẹ dâng Chúa Giêsu trong Đền Thánh”.

Ngày lễ thánh hiến ngôi thánh đường mới đã đánh dầu một bước ngoặt trong lịch sử của giáo xứ, bởi vì ngôi thánh đường mới là biểu tượng đức tin của giáo xứ và là nơi để mọi người gặp gỡ Thiên Chúa và gặp gỡ nhau. Để có được ngôi thánh đường mới này, mọi người Kitô hữu trong giáo xứ Tiên Lục nói iêng và những người giáo dân trong các giáo xứ xung quanh phải đánh đổi bằng biết bao công sức, tiền của, thậm chí phải đánh đổi cả bằng mạng sống.

Ngày 25 tháng 2 năm 2011 hôm nay là một ngày trọng đại cho mọi người con của giáo xứ Tiên Lục ở khắp mọi nơi, đặc biệt là của những ai đang hiện diện trong thánh lễ thánh hiến này. Ước mong sao, từ ngôi thánh đường nguy nga hoành tráng vào bậc nhất của giáo phận Bắc ninh cho đến ngày hôm nay, mọi người con của giáo xứ Tiên Lục và của giáo phận Bắc ninh sẽ lĩnh hội được nhiều ơn thánh. Cũng chính từ ngôi thánh đường này, hương thơm của Lời Chúa và Mình Máu Thánh Chúa sẻ tỏa ra cho tất cả mọi người, ngôi thánh đường sẽ không chỉ mang lại hương thơm và sứ khỏe tốt cho mọi người như cây Dã hương nghìn năm tuổi, mà mang lại sự sống đời đời cho tất cả mọi người.
 
Tài Liệu - Sưu Khảo
Hội Đồng Qúy Chức- Chương III: Khuôn mặt một họ đạo Việt Nam
Lm. Mai Đức Vinh
22:41 25/02/2011
HỘI ĐỒNG QÚY CHỨC

CHƯƠNG III: KHUÔN MẶT MỘT HỌ ĐẠO VIỆT NAM

Trong chương này chúng ta sẽ trình bày hai mục chính:

I. Một ngôi làng truyền thống Việt Nam
II. Khuôn mặt một họ đạo Việt Nam

MỤC I: MỘT NGÔI LÀNG TRUYỀN THỐNG VIỆT NAMỘI ĐỒNG QÚY CHỨC

CHƯƠNG III: KHUÔN MẶT MỘT HỌ ĐẠO VIỆT NAM

Tổ chức của họ đạo Việt Nam giống như ngôi làng truyền thống và tựa như một đại gia đình. Như vậy để hiểu rõ hơn, trước hết chúng ta cần biết vài nét tổng quát về cách tổ chức đời sống dân sự và truyền thống.

I. Hình thành một ngôi làng

Con người sinh ra cho xã hội. Thiếu nó, con người không thể tự nuôi sống, tự vệ, tự tạo, và tiến bộ. Trong bản tính, con người có một sức mạnh hay đúng hơn một luật lệ thúc đẩy tìm kiếm sự
đồng hành với những người cùng loại. Luật này trước hết tạo ra gia đình tựa như một xã hội phôi thai. Và sau đó sinh ra ngôi làng, một đơn vị hành chánh ở Việt Nam (1)

Làng Việt Nam có nguồn gốc theo kiểu mẫu Trung Hoa từ thời nhà Chu thế kỷ XII trước công nguyên. Kiểu mẫu này đã du nhập vào Việt Nam từ thế kỷ thứ nhất bởi những tổng trấn Trung Hoa. Phần lớn, nhất là từ đời Gia Long (1802) sự thành lập những làng tùy vào óc sáng kiến của mỗi cá nhân (2). Người ta còn có thể nói làng Việt Nam thật sự là quy tụ của nhiều gia đình có những liên hệ về họ hàng, hợp lại với nhau ở một chỗ, gần một ngọn suối, dọc theo một con sông, ở giữa một cánh rừng v.v… để cùng nhau khai phá một vùng đất còn hoang vu, chưa trồng trọt.

Lý do tụ tập này có thể bởi sự kiện làng nguyên thủy quá đông đảo, cần phân nhỏ ra để dễ bề sinh sống, hay bởi những thiên tai xẩy tới hoặc do sự cạnh tranh 'bè phái' (clan) trong một gia tộc (3). Họ đã đến lập nghiệp tại một nơi, và để sinh tồn, để vươn lên trên những yếu kém và muốn đáp ứng mọi nhu cầu của đời sống, họ phải đoàn tụ lại, gắn bó với nhau hầu tạo nên sức mạnh và nguồn lợi sống.

Sau đó, để giải quyết quan hệ với nhau, những quyền lợi, bổn phận và bảo đảm sự thoải mái cho tập thể. những gia đình này đã có, hay đã lập được một quy chế. Và một ngôi làng mới đã thành hình.

Chúng ta có thể khẳng định rằng sự thành lập những thôn xóm hay làng xã mới luôn được chính quyền nhà vua khuyến khích. (5)

II. Sự tổ chức của làng

1) Những thôn, xóm

Làng được chia làm nhiều thôn khác nhau thường là do địa dư và sự liên hệ về giòng họ giữa những gia đình. Thôn này cách với thôn kia, mỗi thôn có tổ chức hành chánh riêng biệt, nhưng tất cả đều phải góp phần vào những chi phí của làng. Thôn gửi những đại diện tới các buổi họp công cộng, nhất là những buổi họp bất thường, thí dụ như: những công tác chính quyền buộc mọi làng trong tỉnh phải tham gia vì lợi ích chung.

Nhiều làng có tới chục thôn, làng khác không có. Tùy theo số dân cư hay theo vùng đất lớn nhỏ, mỗi thôn chia ra thành giáp hay khu, xóm. (6)

2) Dân số

Dân số trong làng gọi là 'dân làng' (7). Thường gồm có:

a) Dân đinh: Dân đinh là lớp dân hưởng mọi quyền của người công dân, có bổn phận tham gia vào công phí, phải đóng sưu thuế. Phải ghi danh trước 18 tuổi. Người ta phân ra những người phải đóng sưu thuế như sau:
+ Những chức sắc hay quan viên: những người có quyền chức, đỗ đạt, được triều đình phong chức tước.
+ Lão nhiêu, những người già từ 60 tuổi trở lên.
+ Lão hạng, gồm người già từ 55 đến 59 tuổi.
+ Tráng hạng hay tráng đinh, gồm đàn ông từ 21 đến 54 tuổi.
+ Hoàng đinh, người trẻ từ 18 đến 20 tuổi.

Trẻ em, những người chưa tới 18 tuổi và tất cả đàn bà ở mọi lớp tuổi đều không có tên trong "Đinh bộ" (sổ ghi những người đóng thuế) (8).

b) Dân ngoài hay dân lậu: người đến ở làng ít lâu rồi đi hay ở lại luôn, nếu tìm được cách sinh sống.

c) Dân ngụ: người phải trả một số tiền vì được làng cho trú ngụ.

3) Giới chức sắc

Chỉ có những người này mới được ghi danh, đến họp đại hội, và bỏ phiếu ở hội đồng các chức sắc (9). Họ có nhiệm vụ quản trị làng. Để được ứng cử vào hàng chức sắc, cần phải ghi tên trong sổ đinh và ít nhất là 20 tuổi; là điền chủ; hay đại thương gia, có lợi tức, là công chức đang làm việc hay đã hưu trí. Số chức sắc tùy thuộc sự quan trọng, điều kiện dân cư và tục lệ của mỗi làng.

Buổi họp của các chức sắc trong làng gồm có các thành phần tham dự:
'Dịch mục': chức sắc thành niên, được chọn trong số người trẻ và hoạt động nhất. Họ gánh vác mọi việc, đặc biệt thi hành lệnh bắt giữ ai khi có nghị quyết.
'Kỳ mục': chức sắc trưởng thành, chiếm đa số và là thành phần có nhiều ảnh hưởng nhất. Họ là những người sắp xếp mọi vấn đề, đệ trình, bàn cãi để xúc tiến công việc.

Giới chức sắc nắm trong tay những quyền hành rộng rãi. Họ giải quyết mọi vấn đề trong làng, dưới mọi hình thức và lấy những quyết định để bảo vệ quyền lợi của làng. Chính vì thế người ta nói "làng xã là một nhóm hành chính tự trị" hay "Làng xã tự quản lý mình" hoặc "Lệnh vua thua lệ làng" (10)

4) Trọng trách của chức sắc

Những trọng trách chính trong công việc của các chức sắc là: chia việc trong làng, tìm người lao động cho những công việc có lợi ích chung, khi có yêu cầu của quan tỉnh, nhận tất cả tiền lĩnh canh và tiền thuế lợi tức, ký lại hợp đồng cho thuê, thanh toán, thảo luận và tính sổ sách, nhận những tặng vật và di sản, vay mượn và thế đất của làng, quản trị, có quyền trong tất cả mọi việc có lợi ích chung, như xây cất đường làng, cầu, bờ ruộng và bờ đê, phân định phần tiền thuế thu nhập cho những người phải trả thuế, chọn và tuyển tân binh, tổ chức đội canh phòng trong làng, đưa ra tòa án và tiếp nhận những án xử, là người xử hòa giữa dân làng, bằng lời khuyên bảo khôn ngoan. Và nhiều khi còn xử những án nhẹ, nhiều nhất là 10 roi mây, tổ chức những nghi lễ thường lệ, những hội hè và trò vui công cộng, để ý đến việc giáo dục các em nhỏ, giúp những người nghèo khổ và bệnh tật v.v… (11)

5) Lý trưởng và những người phụ tá

a) Lý trưởng: Hội đồng chức sắc cần một người đại diện trong mối quan hệ với nhà nước, họ tìm ở giữa những thành viên một nguời để ủy quyền. Người này sẽ được bầu bởi tất cả những người dân đinh (dân làng trong sổ bộ). Được bầu, ông trở thành lý trưởng, giữ việc thi hành những quyết định của hội đồng (12)

Đó là một người có tài ăn nói hoạt bát và khéo léo, thông thạo việc bảo vệ quyền lợi cho những người bị áp bức; có khả năng tránh cho làng những chi phí và bảo vệ quyền lợi của dân. Nhờ có danh thơm tiếng tốt, ông được các chức sắc chọn lựa và dân làng bầu phiếu.

Ngay khi cuộc bầu cử được chấp nhận bởi 'chức sắc đặc trách cuộc bầu cử', và không ai khiếu nại vì 'ông lý trưởng có tiền án', thì chính 'chức sắc đặc trách cuộc bầu cử' trao cho ông lý trưởng một chứng chỉ và một con dấu ấn (mộc). Hai vật này là biểu hiệu cho chức vụ và quyền hành của lý trưởng: trên mọi giấy tờ chính thức phải mang dấu ấn và chữ ký của ông lý trưởng.

Trong làng, ông lý trưởng lãnh đạo tất cả những công việc quan trọng, ông đích thân đảm nhận mọi việc của hội đồng chức sắc mà chúng ta đã nói ở phần trên. Tất cả những liên hệ và mọi giấy chứng thực sẽ vô hiệu lực nếu không có dấu mộc của ông.

b) Phó lý: Ông lý trưởng không thể trông coi tất cả mọi việc mà ông có trách nhiệm, ông trao lại một phần quyền hành cho một người phụ tá được gọi là "phó lý". người này được dân làng bầu cử với trách niệm sẽ giúp đỡ, trợ tá, và khi cần thiết sẽ thay thế ông lý trưởng. Ông là người đặc biệt chịu trách nhiệm mọi việc linh tinh trong làng, xây cất và sửa chữa từ con đường đến bờ đê. Như lý truởng ông cũng nhận được một chứng thư của 'chức sắc đặc trách cuộc bầu cử', nhưng không có dấu ấn (mộc)

c) Xã tuần hay tuần phiên: Người canh giữ đồng hay khu rừng ban đêm. Trên nguyên tắc ông chịu trách nhiệm nếu có cướp bóc hoặc phá rối, đêm cũng như ngày, trong làng hoặc ngoài đồng. Vì ông không thể trông coi khắp nơi, người ta đặt một nhóm người gọi là 'tuần đinh' để phụ giúp ông.

d) Thủ bộ hay thủ bản: Người này giữ giấy tờ, sổ sách của làng. Ông giữ sổ đinh bộ là sổ chính thức có tên cả dân làng, và sổ điền bộ, sổ chính thức ghi những chi tiết của chủ đất.

e) Tiên Chỉ: là người cao niên, đức hạnh và thế giá trong làng. Ông được tín nhiệm bảo trì thuần phong mỹ tục trong làng, chủ sự các nghi lễ công cộng, quan tâm đến việc giáo dục trẻ em và giới trẻ (13).

Nhiệm kỳ: Thời nhiệm những viên chức của làng không có hạn định. Tùy theo tục lệ mỗi làng. (14)

6) Những sổ ghi chính thức của làng

Mỗi làng thường có ba sổ ghi: Đinh bộ, Điền bộ và Sổ Hàng xã

a) Sổ đinh bộ: Dành để ghi những người có thể và đang là chức sắc, những người dân đinh. Vì hoàn cảnh chiến tranh, có nhiều làng đã bê trễ lập sổ này. (15)

b) Sổ điền bộ: Khoảng thế kỷ thứ VI sau công nguyên, thời nhà Lý, mỗi làng đều nhận lệnh lập một cuốn sổ ghi gọi là Điền bộ, trong sổ mang từng chi tiết tất cả ruộng và đất trồng trọt thuộc về làng hay thuộc về mỗi gia đình trong làng.

c) Sổ hàng xã hay Sổ hàng thôn: Trong đó có từng chi tiết về bổn phận và quyền lợi của dân làng, ghi những vấn đề căn bản như về tôn ti, ngôi thứ và những tập tục địa phương.

7. Tài nguyên của làng

Những nguồn lợi của làng để trang trải các chi phí, do dân làng đóng góp, từ đất đai, những vườn chăn nuôi, bán những chứng khoán, lợi tức bất động sản chung, đến việc vay tiền khi số thu vào không đủ. Trong trường hợp này, sau một buổi họp, hội đồng chức sắc quyết định bổ trên mỗi dân làng một số tiền ấn định tùy từng hạng theo sổ hàng xã. Những nguồn lợi chung của làng xã phải dùng cho việc chung, không được dùng riêng tư.

Người thủ bộ giữ sổ ghi những chi phí và thu nhập. Ông cũng lo việc trả tiền cho người này hay thu hồi của người khác, dĩ nhiên với sự đồng ý của ông lý trưởng. Hàng năm, một bản tường trình được trao cho hội đồng làng xã về tình hình tài chánh của làng và những việc đã thực hiện trong năm.

Trước khi chấm dứt những gì liên quan đến sự tổ chức của làng xã Việt Nam, chúng tôi xin lưu ý những gì đã nói ở phần trên chỉ là những nét tổng quát. Dù việc tổ chức của làng đã đổi mới lại năm 1921 ở miền Bắc Việt Nam (Tonkin) (16) và năm 1927 ở miền Nam Việt Nam (Cochinchine) (17) nhưng vẫn còn giữ được những nét cổ truyền như ngày trước, còn như những làng ở miền Trung Việt Nam (Annam) không bị một sự thay đổi nào. Lẽ dĩ nhiên chúng tôi không nói ở đây khuôn mặt của một làng dưới chế độ xã hội hiện nay. Tất cả đều thay đổi, ở Bắc Việt Nam từ năm 1954 và Nam Việt Nam từ năm 1975 (18)

III. Đời sống của làng

1) Những buổi họp

Không có thể lệ ấn định ngày và số buổi họp. Khi các chức sắc nhận thấy cần bàn cãi trong hội đồng một vấn đề mà họ phải có giải pháp tức thời, họ quyết định triệu tập buổi họp. Người đi thông báo buổi họp là anh trưởng mõ. Anh này cầm mõ gỗ, đi khắp thôn xóm, khua mõ và rao thông báo mời các chức sắc và tất cả dân đinh đến dự buổi họp. Anh nói vắn tắt nhưng rõ ràng ngày tháng, nơi chốn và mục đích của buổi họp.

Những người đến tham dự buổi họp, sẽ ngồi ở chỗ dành cho mình theo thứ tự đã lập trong "sổ hàng xã". Chỉ những chức sắc mới có quyền phát biểu. Dân đinh được mời dự và được giải thích về những vấn đề đã mang ra bàn cãi.

Sau khi bàn cãi, các chức sắc cứu xét và đưa ra những đề nghị được thông qua hay gạt bỏ theo đa số những chức sắc có mặt. Sau hết, vấn đề được biểu quyết và giao cho các tráng đinh thi hành. (19)

2) Đình làng

Đình làng là ngôi nhà chung, là nơi các chức sắc và dân làng thường hội họp để lo công việc hay cùng tổ chức lễ hội. Đây là trung tâm đời sống của làng. Người ta cũng hay dùng nơi này để làm trường học cho các em nhỏ trong làng.

3) Một vài công việc hành chính

a) Sinh sản: Dân làng không bắt buộc phải làm khai sinh khi có một trẻ em mới chào đời. Nhưng nếu em nhỏ là trai và người ta muốn cho em hưởng những đặc quyền và trọng trách sau này thì phải báo cho các chức sắc biết. Những người này sẽ cho em bé một tên ghi trong "sổ hàng xã", sổ danh sách riêng của thôn xóm, và kể từ lúc đó, em nhỏ đựơc xem như một trong những công dân tương lai.

b) Cưới hỏi: Ngày xưa, đám cưới ở Việt Nam được xem như một nghi lễ căn bản tôn giáo, hoàn toàn không có hiệu lực nếu không tôn trọng những nghi lễ của xứ sở. Làng dùng quyền hạn để làm cho đám cưới dân sự thêm phần vững chắc khi có "nộp cheo" hay "cưới cheo", kèm theo một món quà. Thường các chức sắc hiện diện, và lý trưởng thay mặt dân làng nhận tiền cheo và món quà. Chỉ sau đó, mới được cưới dâu và đôi vợ chồng mới được về "sống chung".

c) Qua đời: Làng không ghi sổ những khai tử cũng như khai sanh. Tuy nhiên, gia đình có thể thông báo cho chính quyền trong làng biết khi có người thân qua đời. Nếu người chết có tên trong sổ "đinh bộ", thì bắt buộc phải khai báo để có thể tìm người thế chỗ.

d) Tòa án hòa giải: Ông lý trưởng và các chức sắc là những người xét xử tất cả các vụ việc gây gổ, cãi vả, bất hòa của dân làng. Những người này không tuân theo quy tắc chung của cả nước. Chỉ có một vài quy tắc chính là được triều đình ban (20). Họ đặt một nội quy gọi là "khoán lệ", riêng cho mỗi làng. "Khoán lệ" là tục lệ cổ truyền, nhưng được soạn thảo với quyết định của đa số. Với "khoán lệ", làng giữ quyền cần thiết để bắt mọi người tôn trọng những quy luật, làng có quyền phạt vạ tất cả những vi phạm.

e) Giáo dục: Việc giáo dục công cộng ở Việt Nam rất phổ biến, ngay cả trong thôn xóm nhỏ, cũng có trường học và đông học sinh. Các chức sắc muốn đào tạo nhiều nguời trong làng có học thức và thế giá, nên ho rất quan tâm tới việc giáo dục con em. Thầy giáo (thầy đồ) thường là người cao niên, trí thức với bộ râu trắng, dài dưới cằm. Họ được nể trọng và kính mến như một người cha, không chỉ bởi các học trò mà cả dân làng. Một trong những lý do thực tế và không kém cao cả làm cho các chức sắc, phụ huynh và ngay cả các trẻ em trung thành theo nền giáo dục công cộng, là một khi có học trò thi đỗ ở địa phương, nguời đó sẽ được miễn các dịch vụ và có địa vị danh dự trong làng.

4) Những lễ hội trong làng

Trong mỗi làng luôn có nhiều buổi tiệc linh đình có tầm vóc quan trọng trong đời sống của làng, và mang nhiểu ý nghĩa:

a) Tình hiếu thảo gia đình: Để thể hiện tình gia đình đối với cha mẹ quá cố, các con phải biểu lộ bằng những buổi tiệc linh đình và tốn kém. Nhiều người giàu có bị phá sản vì chi phí quá nhiều cho tang lễ, cho những chuyện mê tín và cho những hình thức phô trương tốn kém. Thời nhà Lê (Hồng Đức 1474-1497) đã có những điều luật nhằm triệt bỏ mọi tục lệ mê tín và tốn kém, đồng thời khuyến khích lâp hội tương trợ giữa những nguời hàng xóm và dân làng trong những dịp hiếu hỷ của gia đình (21)

b) Củng cố thứ bực: Tuy mang đậm tính chất tôn giáo, gia đình hay xã hội, những buổi tiệc hay bữa cơm tốn kém như trên cũng là dịp để củng cố địa vị và thứ bực trong làng. Bởi lẽ đó mà có bàn trên, bàn dưới, những miếng thịt đầu, miếng ở chân, miếng thịt vai và miếng ở bụng... và sự tranh chấp, phản đối liên quan tới việc chia chỗ và phần ăn đúng theo thứ bực đã không tránh được. (22)

c) Khao vọng hay chính thức ra mắt: Một chức sắc được bầu, một khóa sinh thi đậu, một phẩm hàm vua ban, một chức vụ chính thức hay một tước phẩm danh dự, tất cả đều phải cho cả làng biết bằng một bữa tiệc lớn, vì "vô vọng bất thành quan" (chức phận không được công nhận nếu không có buổi tiệc). Vào dịp này, những người được mời tới dự tiệc mang theo một số tiền hay một món quà góp vào những chi phí.

5) Lễ hội trong làng

Đời sống trong làng được đánh dấu bởi bầu khí của nhiều lễ hội:

a) Các lễ hội tôn giáo: Các lễ tôn giáo trong mỗi gia đình như những "lễ giỗ" (ngày qua đời của một người trong gia đình) hay ở chùa (như lễ Phật Đản..., lễ đản sinh của Khổng Tử hay lễ Thần làng...)

b) Những lễ hội dân gian: như lễ Trung Thu, tết Đoan Ngọ, lễ Thanh Minh, và nhất là Tết Nguyên Đán (23), những bữa ăn lạnh của lễ Hàn Thực.

Vào ngày lễ, mọi người trong gia đình hay trong làng đều nghỉ việc, mọi việc đều ngưng lại, những con đường làng tấp nập; người ta diện quần áo mới... Các bàn thờ ở gia đình hay ở chùa đều được trang hoàng bằng những tấm khăn rực rỡ, đầy những lễ vật, thắp sáng những ngọn nến đỏ và nghi ngút hương thơm. Ba việc làm chính trong ngày lễ lớn là cử hành nghi lễ tôn giáo, rồi tham gia tiệc tùng và thưởng ngoạn các trò chơi, kể cả việc chơi bài giải trí.

c) Trò chơi dân gian: Những trò chơi được dân quê Việt Nam ưa thích là những trận đấu trâu, đấu cá, đấu gà, đua dê, đua heo, thi pháo Tầu, thi thả diều v.v… Những trò chơi trên đặc biệt được tổ chức vào các ngày lễ lớn của làng.

IV. Đôi Lời tóm kết

Như chúng ta vừa thấy, ngôi làng Việt Nam được cấu kết rất chặt chẽ. Đó là mối liên hệ đầu tiên, là một hội đoàn được lập ra giữa những người có tên trong sổ bộ và họ tự quản lý lấy về vật chất cũng như tinh thần. Làng không tách rời gia đình, nhưng chồng lên và đòi hỏi sự cộng tác chặt chẽ của dân làng. Nơi đây phải có tinh thần đoàn kết để cho làng tồn tại và phát triển. Một trong những đặc tính quan trọng của người Việt Nam là rất gắn bó với làng mạc cổ truyền: "Đá trôi làng không trôi". Tinh thần xóm làng luôn sống dai dẳng nơi người Việt Nam, đó là mối liên hệ kết hợp dân làng xóm, trong hiện tại cũng như quá khứ, làm họ gắn bó với mảnh đất của tổ tiên và tránh cho họ không bị mất gốc.

Tổ chức đời sống và tinh thần làng xóm có một ảnh hưởng sâu đậm trong việc tổ chức và nuôi sống các xứ đạo tại Việt Nam. Tuy sống chết với niềm tin, người công giáo Việt Nam luôn ý thức mình đã và vẫn là người Việt Nam chôn rễ và gắn bó với thôn xóm, làng mạc thuần túy Việt Nam. Hơn thế, qua họ, đạo công giáo hòa nhập vào văn hóa Việt Nam, làm phát triển thêm nền văn hóa địa phương, cụ thể là nền văn hóa gia đình và thôn làng. (24). Nhận định lịch sử này sẽ được khẳng định mạnh mẽ trong những trang kế tiếp khi chúng ta trình bầy khuôn mặt của một họ đạo tại Việt Nam.

MỤC II: KHUÔN MẶT MỘT HỌ ĐẠO VIỆT NAM

I. Tầm quan trọng của họ đạo

Trên thực tế, các họ đạo Việt Nam đã hiện hữu từ ba thế kỷ trước, nhưng mãi tới công nghị Cochinchine, tổ chức từ ngày 7 đến 14 tháng 8 năm 1880 tại Sài Gòn, mới lần đầu tiên mới ấn định sự phân chia các họ đạo trong mỗi giáo phận:"Mong rằng mỗi giáo phận được chia ra làm giáo hạt hay giáo tổng và mỗi giáo hạt chia ra nhiều giáo xứ hay họ đạo". (Il serait à souhaiter que chaque vicariat fut divisé en districts ou cantons et chaque district en plusieurs quasi-paroisses ou chrétientés) (25)

Chúng tôi không ngại ngùng nói rằng họ đạo là đơn vị căn bản của một giáo phận: "Chúng tôi gọi là họ đạo hay xứ đạo khi ở đó một tập đoàn giáo dân có sinh hoạt riêng, có nhà thờ và có lễ quan thày riêng, có các chức việc riêng và không lệ thuộc vào một tập đoàn giáo dân nào" (26)

Theo như quyết định của công nghị Cochinchne, mỗi giáo xứ thường có nhiều họ đạo: "Để tiện việc sắp xếp công việc cho các linh mục nhiều họ đạo gần nhau hợp lại thành một giáo xứ" (27). Nói cách khác, một giáo xứ có một họ chính hay họ trị sở và nhiều họ lẻ hay họ nhánh.

Như vậy, dựa vào tâm tính của người Việt Nam, vào lịch sử của Giáo Hội Việt Nam và vào ảnh hưởng của sự tổ chức và đời sống một ngôi làng cổ truyền Việt Nam đối với họ đạo, chúng tôi có thể nói rằng giáo xứ chỉ là một đơn vị hành chính, luân lý và tinh thần, trong đó những liên hệ không thực sự ràng buộc; trong khi họ đạo (họ chính hay họ lẻ) còn là một đơn vị hiện thực, trong đó tất cả giáo dân đều biết nhau, cùng có những tập quán chung, cách sống chung và đôi khi là anh em trong một gia đình hay bà con trong một dòng họ. Ngoài ra trong những văn bản chính thức liên quan đến Hội Đồng Quí Chức, người ta đã trình bày về vai trò của ông trùm họ hay ông biện sở của một họ đạo nhiều hơn vai trò của ông chánh trương hay ông trùm cả trong một giáo xứ (28) cũng nên nhắc lại là đơn vị căn bản của giáo phận và đặc biệt với một Giáo Hội còn non trẻ như ở Việt Nam trước 1953, không phải là giáo xứ (quasi-paroisse), không phải giáo hạt (district), nhưng là các họ đạo (chrétientés).

Bởi những lý do trên, trong chương này và cũng như trong suốt công việc trình bày của chúng tôi, chúng tôi sẽ trình bày về cách tổ chức, về đời sống và những chức việc của họ đạo, nhiều hơn là của những giáo xứ: vì chính trong họ đạo chúng tôi thấy rõ sự góp phần của giáo dân và hơn nữa của các chức việc, vào thừa tác vụ của linh mục, nhất là ở các họ đạo không có linh mục thường xuyên.

II. Sự thành hình của một họ đạo

Như chúng ta đã thấy, ở Việt Nam một giáo xứ luôn gồm nhiều họ đạo. Nhưng một họ đạo thành hình như thế nào? Lịch sử cho chúng ta thấy họ đạo được thành hình bởi nhiều sáng kiến và nguyên nhân.

1) Bởi sự khởi xướng cá nhân.

Họ đạo có thể được thành hình bởi niềm tin vững chắc và sâu đậm của một người giàu có, có học thức và nhất là chân thực. Bị đánh động về lòng bác ái hay bởi việc giảng thuyết của vị truyền giáo, người đó hoán cải niềm tin, rồi trở nên tông đồ, giữa những người đồng hương ngoại đạo. Bởi đời sống làm chứng cho đức tin, họ đã thu hút một vài người, với những người này họ thiết lập một họ đạo mới, mà họ là người chỉ huy và làm phát triển dần dần với thời gian (29). Sau đây là một vài trường hợp điển hình:

a) Ông Dominique và họ đạo ở Thuận hóa: Ông được rửa tội bởi cha Benoit de Mattos 30 năm trước khi gặp cha Alexandre de Rhodes. Mặc dù các cha vắng mặt, ông luôn rất tận tâm làm việc truyền giáo. Trong dịp gặp cha Alexandre de Rhodes, ông Dominique đã xin cha rửa tội cho 30 người tân tòng mà chính ông dẫn dạy giáo lý. Ông còn hoán cải được nhiều người trở lại. Kết quả, ông đã lập được một họ đạo mà ở đó chính ông tự xây một thánh đường rất đẹp.(30)

b) Một trí thức vô danh: Cha A. Launay đã kể lại chuyện một người học thức được nghe nói tới đạo Công Giáo, Ông tìm hiểu, thấy tốt đẹp và muốn theo nhưng bị gia đình chống đối ý định. Quyết định theo sự thật, ông rời bỏ những người thân và ẩn trú trong một thôn xóm xa xôi, ở đó ông làm thầy giáo để sinh sống. Có hai người học trò hỏi ông về đức tin, nhờ ông chỉ dẫn một người kể lại cho cha mẹ của mình và tất cả đã lãnh nhận phép rửa tội (31). Rồi từ đó là một họ đạo mới được thành lập.

c) Ông Tổng đốc Ca và họ đạo Hóc Môn: Đây còn là trường hợp khác của một họ đạo được lập ra, trước hết bởi một vị quan đã trở lại đạo rồi lôi kéo những người dưới quyền cùng theo: như họ đạo ở Hóc Môn đã khởi đầu nhờ ông tổng đốc Ca ở làng Hạnh Thông Tây, được rửa tội bởi đức cha Puginier năm 1863. Sau đó ông đã giúp cho 25 người dưới quyền trở lại. Thế rồi ông tổng Ca đã xin cất một ngôi thánh đường và lập nên họ đạo Hóc Môn (32).

d) Ông xã trưởng Phú Lộ và họ đạo St Michel: Ông xã trưởng Phú Lộ rơi vào tay đảng cướp và bị tước đoạt hết của cải, thảm hơn nữa còn bị chúng hại vu cáo. Ông đã tìm gặp một linh mục và thưa cùng ngài "Lúc khó khăn, những người khốn khổ không biết tin tưởng vào ai, nếu ngài rủ thương chấp nhận tôi như một người khách, tôi sẽ trở thành người công giáo cùng với cả gia đình..." Vị linh mục đã làm hết khả năng để giúp ông… Và như thế, sau đó đã có gần khoảng 30 người học giáo lý sửa soạn lãnh phép rửa tội để lập thành những người nồng cốt đầu tiên của họ đạo St Michel ở Phú Lộ (33).

2) Bởi sự khởi xướng của tập thể.

Họ đạo có thể tạo ra bởi sự tập họp một nhóm người công giáo đã rời bỏ nơi sinh quán, trốn tới những vùng xa xôi để tránh sự bắt bớ hay để tránh chiến tranh như:

a) Họ đạo An Nhơn và Vĩnh Hòa: Trước tiên, họ đạo An Nhơn được lập nên bởi một nhóm giáo dân từ Quy Nhơn đến tị nạn trong thời Tây Sơn khởi nghĩa. Họ đạo này được sát nhập với họ lẻ Gia Định (34). Rồi trong thời bách đạo năm 1859, nhiều giáo dân ở phía Bắc di tản xuống phía Nam và đến ở gần sông Rạch Ông. Họ tạo thành họ đạo Vĩnh Hội với một thánh đường đẹp đẽ. Đó là một trong những họ đạo đầu tiên của giáo xứ Khánh Hội hiện nay (35).

b) Họ đạo Tha La và Cu Mi: Vào cuối đời vua Gia Long, nhiều giáo dân, để thoát sự bắt bớ của các quan lại và sự ức hiếp của người ngoại đạo, bỏ trốn vào lập nghiệp trong rừng về phía Nam tỉnh Tây Ninh. Vào năm 1833, Ông Tri, một người công giáo nhiệt tâm và tận tụy trong công tác tông đồ, đã tụ tập họ lại để tạo thành một họ đạo mới. Đó là nguồn gốc của giáo xứ Tha La ngày nay (6). Sau cùng, cha Archimbaud và cha Bảy, đã giúp cả trăm giáo dân gốc Quy Nhơn và Phú Yên, trốn tránh bách đạo và chiến tranh. Họ tụ họp lại ở một miền đất phì nhiêu thuộc tỉnh Phan Thiết và lập thành họ đạo Cu Mi (37).

3. Sự trở lại của cả tập đoàn

Một họ đạo còn có thể thiết lập bởi việc trở lại của nhiều gia đình, nhiều khi cả thôn. Thường thường, một nhóm trung bình từ 10 đến 12 gia đình trong làng đến tìm gặp linh mục để xin được rửa tội. Linh mục khuyến khích họ và tuyển lựa thêm ít người nữa cùng khao khát như vậy. Khi có đủ số đông, linh mục gửi một thày giảng đến giúp họ xa tránh những tập tục ngoại giáo, rồi ứng tiền để dựng một chòi lá hay căn nhà gỗ, làm nhà nguyện cho họ đạo mới khai sinh. Nếu như chỉ có hai hay ba gia đình thì linh mục sẽ giúp cho họ tới lập nghiệp gần một ngôi làng công giáo tránh ảnh hưởng người ngoại đạo.

Đây là cha Cadière đã ghi lại: "Trong một ngôi làng đã lập được một họ đạo, có một, hai, mười gia đình trở lại, họ nhập với những gia đình công giáo khác để thích nghi đời sống đạo, để được giúp đỡ, rồi từ từ họ sẽ quen dần với sự cầu nguyện và chịu các bí tích của đời sống người giáo dân. Linh mục sẽ được bớt gánh nặng và có thể dạy họ giáo lý và giúp đỡ họ một cách thiết thực về vật chất. Mặt khác những cuộc trở lại riêng rẽ làm cho làng xã và nhà cầm quyền ít chú ý hơn" (38).

Chúng ta cũng có thể lấy làm thí dụ điển hình sự khai sinh của họ đạo Cửa Bạng và họ đạo An Vực mà chúng tôi đã trình bày ở phần trên (39).

III. Ý nghĩa của từ 'Họ đạo' trong ngôn ngữ Việt Nam

Những khác biệt của sự thành hình các họ đạo như trên đã nói lên phần nào ý nghĩa chữ 'họ đạo' trong ngôn ngữ Việt Nam. Ở đây, một lần nữa chúng tôi xin mượn lời của cha Cadière để dẫn giải. Ngài viết: "Tại Việt Nam, họ đạo là một tế bào chủ yếu của công trình truyền giáo và của đời sống công giáo. Họ đạo bao gồm từ 'Họ', tiếng của người Việt Nam, trước tiên nêu bật ý nghĩa 'gia đình', 'họ hàng', thứ đến, theo nghĩa rộng hơn, áp dụng cho 'một nhóm người' hay 'một đoàn thể'. Từ này đã cho chúng ta thấy họ đạo dưới một khía cạnh thật đặc biệt. Thật ra, ở Việt Nam, quan hệ họ hàng, không phải là sự tụ họp lại của những người cùng có liên hệ một họ như ở Âu Châu. Sự liên hệ mà từ 'họ' muốn bày tỏ, bao hàm ý nghĩa rộng hơn, bởi vì ở Việt Nam, liên hệ họ hàng còn được tạo nên bởi việc thờ cúng tổ tiên, và như vậy, mối liên hệ không chỉ có tính chất tôn giáo mà còn thêm liên đới huyết tộc gắn bó những người cùng gốc gác với nhau, nó bao gồm cả những quyền lợi chung trong phạm vi tôn giáo. Như thế họ đạo, tương tự như họ đạo ở Âu Châu, không chỉ là sự tập họp những cá nhân, vào thời giờ ấn định, trong một nhà thờ. 'Họ đạo' không phải là một cơ thể giả tưởng với những thành phần, nhiều hay ít, có cùng một đức tin, nhưng đó là một cơ thể có thật, vững chắc và sống động " (40).

IV. Công trình tổ chức một họ đạo

Mặc dù gặp phải những khác biệt và khó khăn lớn lao gây ra bởi tình hình địa lý, khí hậu từ Bắc vào Nam, chiến tranh liên tiếp; bởi những khó khăn về chính trị, ngay cả sau cuộc bách đạo; bởi tâm tính khác biệt của người miền Bắc và miền Nam; bởi những phương pháp truyền đạo riêng của những linh mục dòng Tên, dòng Đaminh và hội Thừa Sai Paris v.v…, công trình truyền giáo tại Việt Nam có một sự may mắn lớn, đó là cách đồng nhất trong việc tổ chức các họ đạo, và các Hội Đồng Quí Chức trong họ đạo. Vì thế chúng tôi không ngần ngại nói rằng phần trình bày của chúng tôi là một sự tổng hợp có thể áp dụng với những giới hạn cần thiết, cho bất cứ họ đạo nào, Hội Đồng Quí Chức nào ở Việt Nam (41).

1) Theo mẫu một ngôi làng cổ truyền

Giáo xứ là sự tập hợp của nhiều họ đạo nằm trong những làng, thôn, cách biệt nhau. Đó là một trong những sắc thái độc đáo của các giáo xứ ở Việt Nam (42). Họ đạo lớn nhất, nơi linh mục cư ngụ gọi là 'họ chánh' hay 'họ trị sở', những họ khác gọi là 'họ lẻ'.

Dĩ nhiên giáo dân phải theo những điều luật quản trị chung áp dụng cho tất cả mọi người. Nhưng khuôn khổ hành chính dân sự không đủ đối với đời sống đạo của giáo dân. Bởi thế họ ghép cách tổ chức của ngôi làng vào cách tổ chức đời sống họ đạo, đồng thời gạt ra những điều tiêu cực và thế vào đó những yếu tố xác thực, phù hợp với đạo giáo. Vì vậy người ta cho rằng hầu hết những họ đạo Việt Nam được tổ chức giống theo như một ngôi làng hay một thôn xã thời xưa

Như vậy họ đạo Việt Nam có tổ chức theo cấp bực, giống như chúng ta đã thấy ở trong ngôi làng cổ truyền. Trong cấp bực của xã hội, hành chính và tôn giáo này gồm có linh mục, Hội Đồng Quí Chức và những giáo dân.

2) Linh Mục.

Là nguời duy nhất có trách nhiệm làm trôi chảy mọi việc trong họ đạo đã được trao phó cho ngài (43). Vì vậy ngài là người đứng đầu chỉ huy họ đạo hay giáo xứ. Ngài nắm trong tay tất cả mọi quyền cần thiết để điều khiển giáo xứ, trừ truờng hợp Giáo luật dành riêng cho đức giám mục. Để trông nom những giáo dân được ủy nhiệm cho ngài, ngài có một dấu triện riêng (44).

Đối với người công giáo Việt Nam, nhất là đối với những chức việc, linh mục là cha linh hồn, là người đại diện cho Chúa, là thầy dạy. Mọi người đều nghe theo, kính trọng, tin tưởng và vâng lời ngài. Nhưng cùng lúc, giáo dân theo dõi đời sống của linh mục.

Họ xem như một tai tiếng lớn khi thấy linh mục thiếu trang nghiêm trong đời sống mục vụ. Và do đó có những chuyện đáng tiếc xảy ra giữa họ đạo và linh mục. Vì ý thức được những vấn đề này, trong những thư chung của các giám mục, những cuốn Chỉ Nam và văn bản các công nghị đã luôn khuyến khích các linh mục phải gắng sức sống cho đúng đời sống tu trì: lòng đạo sâu xa, sự nhiệt tình trong công việc tông đồ, chăm sóc và kiên nhẫn với giáo dân, kín đáo trong mục vụ, nghiêm chỉnh trong cách ăn mặc, về lời nói, trong đời sống riêng tư cũng như khi thi hành công việc mục vụ. Linh mục là con người mô phạm.

Trong khuôn khổ của bài viết, chúng tôi hân hạnh đưa ra dưới đây những văn bản thực tế về mục vụ của linh mục họ đạo.

a) Tận tụy trong công việc tông đồ: Tận tụy là đức tính đặc trưng của các mục tử. Dù là cha sở hay cha phó, linh mục luôn nhớ rằng: một khi lãnh nhận thừa tác mục vụ và sứ vụ tông đồ, các ngài phải lo phục vụ dân Chúa bằng đức tính tận tụy và cứu rỗi các linh hồn bằng đời sống thánh thiện. Vậy, trước hết linh mục phải săn sóc những giáo dân đã được rửa tội và những người tân tòng đang học giáo lý. Nhưng ngài cũng không quên những người dân ngoại đang khao khát Tin Mừng và cần được giúp đỡ (45).

b) Kiên nhẫn với giáo dân: Tự bản tính, người Việt Nam ít nóng nảy và rất kiên nhẫn. Vì thế các linh mục phải giữ sao không nên nóng giận: đạt được sự bình thản là yếu tố cần có của những người lãnh đạo… Nóng giận làm giảm bớt uy tín, sự kiên nhẫn của linh mục làm cho mọi người nghe theo và kính trọng hơn là sự thông minh trong công việc hoạt động: Patientia opus perfectum habet (46).

c) Đời sống gương mẫu: Ở nơi cha, con người và linh mục chỉ làm một, nghĩa là ngài luôn là linh mục ở mọi nơi và mọi lúc. Đời sống của ngài là sự thực hành những gì ngài giảng dậy. Người ta sẽ đặt câu hỏi khi thấy một linh mục giảng trước công chúng phải hãm mình nhưng thích tìm kiếm thức ăn ngon; ca tụng điều đơn giản, không bám víu, nhưng lại xa hoa trong cách sống và phục sức; ca ngợi giá trị đức khó nghèo nhưng chính mình lại chạy theo tiền bạc. Sống làm sao để giáo dân có thể thấy những gì cha giảng dậy là điều cha thực hành mỗi ngày, lời nói và việc làm phải đi đôi với nhau. Có như vậy, việc tông đồ mới trổ sinh hoa trái (47). Một linh mục sống như vậy mới có thể kéo níu sự hợp tác của giáo dân trong việc tông đồ, mà đầu tiên là các chức việc.

3) Quí Chức.

Linh mục là người duy nhất chịu trách nhiệm điều hành các công việc trong họ đạo mà ngài đã được giao phó, với sự giúp đỡ của Hội Đồng Quí Chức (48) chúng tôi xin trình bày kỹ lưỡng trong những trang kế tiếp.

a) Mục đích và ý nghĩa của sự thiết lập Hội Đồng Quí Chức: Các chức việc được so sánh như 72 môn đệ của Chúa Giêsu. Giống như Chúa Giêsu, các Bề Trên trong Giáo Hội lo thiết lập Hội Đồng Quí Chức để giúp các linh mục trong việc truyền giáo và mục vụ. Nghĩa là tham gia vào thừa tác vụ của linh mục. Những văn bản chính thức sau đây đã xác định:

Trong cuốn Chức Sở Mục Lệ, đức cha Colombert đã khẳng định: "Trước kia Chúa đã chọn 72 môn đệ. Trước khi đến nơi nào giảng dậy, Chúa sai các môn đệ đi trước để sửa soạn đường cho Chúa. Ngày nay, theo gương Chúa Giêsu, các Bề Trên trong Giáo Hội cũng chọn các chức việc trong họ đạo để họ giúp các linh mục. Ý định của các Bề Trên khi chọn các chức việc trong họ đạo trước tiên vì mục đích thiêng liêng: mở rộng nước Chúa, cho danh Chúa cả sáng, mang ơn cứu độ đến mọi nơi.

Sau nữa, các Bề Trên muốn các quí chức tham gia vào việc quản trị trong họ đạo, như những cộng tác viên của các linh mục, và trong những phạm vi cho phép hay trong những trường hợp cần thiết, quí chức có thể thay thế linh mục. (49).

Trong thư chung đề ngày 07.09.1899, đức cha P.M Gendreau đã viết: "Họ đạo nào cũng phải có các quí chức giúp linh mục lo việc mục vụ, lo các bí tích, trông coi các linh hồn và luôn giữ trật tự, yên ổn trong họ đạo hầu làm sáng danh Chúa và cứu rỗi các linh hồn. Vì thế người ta có thông lệ đề cử một người để trông coi họ chính và những người khác trông họ lẻ và từng khu xóm. Thông lệ này rất tiện lợi và tất cả các họ đạo phải áp dụng" (50)

Sau hết, công đồng Indochine năm 1934 đã nhấn mạnh: "Trong xứ chúng ta, Hội Đồng Quí Chức đã được thiết lập từ lâu, có thể giúp đỡ rất nhiều trong cách tổ chức Công Giáo Tiến Hành. Hội Đồng Quí Chức đã giúp các cha trong công việc tông đồ về cả phạm vi thiêng liêng và phạm vi thế tục. Phải nói, quí chức rất hữu ích trong việc giúp giáo dân sống vững niềm tin và tiếp xúc với lương dân" (51).

b) Những danh xưng của các chức việc. Giống như những điều chúng tôi đã nói về Hội Đồng Chức Sắc của làng, Hội Đồng Quí Chức của họ đạo, tuy có những điểm trùng hợp trên nét chính, nhưng cũng có nhiều khác biệt về chi tiết cho mỗi vùng hay mỗi giáo phận. Chúng ta sẽ thấy rất rõ khi nói đến các danh xưng và số người trong ban chức việc. Những danh xưng này rất phức tạp và nhiều thể loại. Chúng ta xem theo từng miền, từ miền Bắc tới miền Trung và miền Nam

Các giáo phận ngoài Bắc (Tonkin): Nghĩa là ở những vùng Thanh Hóa, Phát Diệm, Bùi Chu, Thái Bình, Hưng Hóa, Bắc Ninh, Hải Phòng, Lạng Sơn và Hà Nội, những thành viên của Hội Đồng Quí Chức đều có danh xưng giống nhau.

- Hội Đồng Quí Chức được gọi là 'Hội hàng phủ', hay 'Ban hàng xứ', 'Ban Phủ xứ' hoặc 'Hội đồng xứ'.

- Hội Đồng Quí Chức gồm có 'Ban tư vấn' và 'Ban trị sự' lo việc hành chánh. Trong thực tế, Ban tư vấn chỉ có trong một vài giáo xứ lớn ở mỗi giáo phận miền Bắc. Ở miền Trung và trong Nam không có Ban tư vấn.

- Thành viên của Ban trị sự hay đúng hơn của Hội Đồng Quí Chức trong mỗi giáo xứ gồm có 'chánh trương', 'phó trương', 'thư ký', 'thủ quỹ', 'tuần kiểm'; trong mỗi họ đạo, nghĩa trong một họ chính có cha sở và nhiều họ lẻ, thì có người đứng đầu họ đạo là 'trùm họ' hay 'giữ việc' hoặc 'thủ việc', người phụ tá là 'trùm phó', người lo an ninh gọi là 'thu khoán' và những người lo dạy giáo lý trẻ em là các 'quản giáo'.

Các giáo phận miền Trung (Annam): Là vùng Vinh, Huế, Quy Nhơn và Kontum, những thành viên của Hội Đồng Chức Việc hầu như cùng mang một danh xưng:

- Hội Đồng Quí Chức gọi là 'Ban chức sở' hay 'Ban chức việc'.

- Thành viên của Hội Đồng Quí Chức là: Trong mỗi giáo xứ có 'trùm cả' hay 'trùm chính', những người phụ trùm cả là 'câu nhất', 'câu nhì' v.v… trong mỗi họ đạo, người đứng đầu là 'biện sở' hay 'biện nhất', rồi những phụ tá là 'biện nhì', 'biện ba' v.v… tùy theo tầm quan trọng của họ đạo. Mỗi người trông coi một công việc đặc biệt, các quản giáo thì gọi là 'cai sĩ'.

Các giáo phận miền Nam (Cochinchine) Gồm Sài Gòn, Vĩnh Long, những thành viên của Hội Đồng Chức Việc giữ cùng một danh xưng:

- Hội Đồng Quí Chức được gọi là 'Hội Đồng quới chức’ hay 'Ban quới chức' hay 'Hàng chức sở'.

- Thành phần của Hội Đồng Quí Chức gồm: Trong mỗi giáo xứ, có người chủ tịch danh dự là 'trùm phủ' (phẩm chức này chỉ có ở vài giáo xứ lớn), ông chủ tịch gọi là 'trùm', phó chủ tịch là 'câu nhất', rồi 'câu nhì' v.v… và có nhiều ông 'biện' giữ những chức vụ khác như thư ký, thủ quỹ v.v… vì vậy phải có 'biện việc', 'biện hai', 'biện ba'… tùy theo tầm quan trọng của họ đạo.

Nhận xét quan trọng: nên chú ý rằng ở mỗi họ đạo được chia ra từng khu, người giữ trách nhiệm được gọi là 'trưởng khu' hay 'trưởng xóm' ở miền Bắc, là 'biện phái' ở miền Trung và là 'Giáp trưởng' ở miền Nam. Trong cuốn Chức Sở Mục Lệ và trong tất cả những tài liệu chính thức tương tự, người ta nói đến trách nhiệm của trưởng khu, nhưng không công nhận người đó là thành viên của Hội Đồng Quí Chức. Luôn luôn trưởng khu chỉ được xem như bước đầu phải qua cho những ai muốn ứng cử sau này để bước lên một chức vụ cao hơn (52). Ngoài ra, danh dự nhất trong Hội Đồng Quí chức là ông chủ tịch, nhưng hoạt động nhiều, quan trọng, và trong coi mọi việc là ông trùm họ. Vì thế, trong tất cả các văn kiện liên quan đến Hội Đồng Quí Chức, người ta nói đến các ông trùm họ nhiều hơn ông chủ tịch hay những chức việc khác. Theo diễn tiến chúng tôi sẽ trình bày về đời sống của họ đạo nhiều hơn của giáo xứ, về những hoạt động tông đồ của các chức việc trong họ đạo nhiều hơn là các chức việc ở giáo xứ.

1) Những ủy ban này chỉ có ở những giáo xứ lớn của miền Bắc
2) Trong các giáo xứ nhỏ, không có chức Trùm mà có chức Câu.
3) Ở nhiều họ đạo các giáo lý viên, nhất là giáo lý viên nữ, không được kể là thành viên của Hội Đồng Quí Chức.
4) Trưởng khu, Biện phái, Giáp không phải thành viên của Hội Đồng Quí Chức.

c) Các thành viên của hội đồng chức việc: Số các chức việc tùy theo sự quan trọng và cần thiết của họ đạo. Thường người công giáo Việt Nam rất quý hàng chức việc. Bởi vậy có rất đông chức việc. Thí dụ, giáo xứ Tân Định ở thời cha Eveillar (1874) đã bầu lại các chức việc gồm hai ông trùm cả, hai ông câu, 12 ông biện và 14 ông giáp (53). Ngoài ra, năm 1882, cha Girod, đã lập một Hội Đồng Quí Chức gồm từ 40 đến 50 người, chọn trong tất cả những họ đạo phụ thuộc (54). Năm 1884, trong cuốn Chức Sở Mục Lệ, đức cha Colombert đã xác định một số chức việc như sau:

• Ở họ đạo có 1.000 giáo dân trở lên, nên có hai ông trùm, hai ông câu và 12 ông biện tùy theo số họ đạo lẻ. Trong họ đạo có số giáo dân không quá 1.000 người và là nơi cha sở cư ngụ, phải có một ông trùm, hai ông câu và 9 ông biện. Nếu họ đạo nào không có cha sở, có thể đặt một ông câu và 4 hay 6 ông biện, tùy theo số giáo dân. Cha sở lập những truởng khu nhiều hay ít theo nhu cầu. Những họ đạo muốn tăng thêm số chức việc phải xin phép giám mục. Họ đạo nào đã có số chức việc quá đông có thể giữ tình trạng y nguyên, nhưng khi có một chức việc qua đời hay từ chức, không được bầu thêm để thay thế và phải theo như số chức việc đã được ấn định (55)

• Vào năm 1953, đức cha Ngô Đình Thục lần đầu tiên sửa lại điều lệ như sau: trong họ đạo có 2.000 giáo dân trở lên, nên có hai ông trùm, hai ông câu, ít ra có một số ông biện tùy theo số họ đạo của giáo xứ, nhưng không được quá 20 người (56). Cũng nên nói thêm, sau thời kỳ bách đạo, số các linh mục gia tăng, các họ đạo được cải tổ, các hội đồng chức việc cũng được tổ chức lại và bớt số thành viên. Hơn nữa, theo cha Cadière: "Chỉ những họ đạo quan trọng mới có số chức việc vào khoảng 12 người, đôi khi có thể hơn. Ở họ đạo trung bình, không có ông trùm, có khi không có cả ông câu. những họ đạo nhỏ chỉ có một vài ông giáp. Thường ông giáp nào trổi trang hơn sẽ làm trùm họ" (57)

d) Điều kiện bầu cử một ứng viên: Một người công giáo muốn đắc cử trở nên thành viên của hội đồng chức việc, trước hết phải là chức việc đã hoạt động trong giáo xứ hay trong họ. Đi vào chi tiết, chúng ta thấy:

Những điều kiện phải có:
1) Đã làm giáp vài năm, nếu không thì phải xin phép đặc biệt của đức giám mục
2) Muốn trở thành trùm, ít nhất ứng viên phải đủ 25 tuổi.
3) Không đặc cử một chức vụ cao hơn nếu người đó chưa làm việc với chức thấp trước.
4) Phải là người đứng đắn, có hạnh kiểm tốt. nên chọn lựa những người đã lập gia đình. (58)
5) Phải hiểu biết đạo để có thể chỉ dẫn những điểm căn bản của đạo Chúa.
6) Phải là người tốt đạo thật sự.
7) Ít nhất phải biết đọc và viết chữ quốc ngữ.
8) Càng tốt hơn nếu có chức vụ trong phạm vi dân sự.
9) Ngoài những điều kiện trên điều cần nhất phải có là lòng sùng đạo.

Những điều kiện không được có: Tuyệt đối không được chọn ứng viên sau đây:
1) Người thích chia rẽ và coi thường người khác.
2) Người tính tình khó khăn, thiếu nhã nhặn khó dung hòa với người khác.
3) Người có đời sống hôn nhân bất hợp lệ.
4) Người có tiếng không tốt, nghiện ngập hay dâm đãng.
5) Người đã nhiều năm không xưng tội rước lễ.
6) Người thưa kiện trước toà dân sự về vấn đề tôn giáo.
7) Người không tuân phục cha sở, trùm họ trong vấn đề quan trọng hay ẩu đả với một trong những chức việc.
8) Người cho vay ăn lời quá đáng hay thông đồng với trộm cướp, lấy của cải của người khác.

Tóm lại, để chọn lựa một người chức việc, trước hết, phải chọn người đạo đức, hăng hái, thông minh và học thức, tuyển chọn được những người có nhiều khả năng (59)

e) Phương cách bầu cử các chức việc.

Theo nguyên tắc: Như những nguời có phẩm tước trong làng, các chức việc luôn được lựa chọn bởi giáo dân, nhất là ở những họ đạo không có linh mục, sau đó giám mục hay cha sở chuẩn y cuộc bầu cử. Quyết định của các công nghị Faifo (1672) và Tonkin (1900) đều xác nhận.

Công nghị Faifo tán thành: "Những họ đạo không có Thầy giảng (Catéchiste) có thể lựa chọn một giáo dân có khả năng, đức hạnh nhất để giúp đỡ cộng đoàn; ngay sau đó, tên tuổi người được chọn, phải đưa lên đức cha de Bérithe (đức cha Lambert de la Motte) hay đức giám mục phó để các ngài xác nhận, nếu vì nhu cầu cần thiết, người được chọn có thể làm việc ngay trước khi được chứng nhận" (60)

Công nghị Tonkin đã xác định vắn tắt rằng: "Ở mỗi họ đạo, sẽ ấn định hai chức việc (ông trùm và người phụ tá) được giáo dân chọn và cha sở xác nhận (61).

Những quy định rõ ràng nhất đã được đức cha Colombert sọan trong cuốn Chức Sở Mục Lệ. Những quy luật này đức cha P.M.Gendreau và các cuốn Chỉ Nam Giáo phận Huế, Quy Nhơn và Hà Nội đã lập thành văn bản như sau: "Cuộc bầu cử các chức việc là vấn đề rất quan trọng của họ đạo, vì vậy phải theo những thủ tục được xác định rõ ràng:
1) Việc bầu cử những ứng viên phải qua một cuộc bỏ phiếu của tất cả giáo dân từ 20 tuổi trở lên hay ít nhất bởi các thành viên của Hội Đồng Quí Chức.
2) Ứng viên phải được ít nhất 2/3 số biểu quyết, rồi sau đó mới được lập tên trên danh sách bầu cử.
3) Các chức chánh trương (trùm cả), phó trương (câu 1) hay trùm họ chỉ được đắc cử thực thụ sau khi cha sở đã ký giấy, và gửi xin đức giám mục phê chuẩn và cấp bằng.
4) Việc bầu các chức việc khác như: thư ký, thủ quỹ, tuần kiểm, giáo lý viên, chỉ cần chấp thuận của cha sở hay người kỳ cựu nhất tùy theo tập quán của mỗi miền.
5) Các chức việc một khi nhận được bằng chứng nhận của đức giám mục, thì chỉ có ngài mới có quyền cho ngưng việc hay từ chức. Những chức vụ khác nếu có lý do chính đáng muốn ngưng việc, chỉ cần xin cha sở (62).

Trên thực tế: Những điều lệ của Giáo quyền không được áp dụng hoàn toàn trên thực tế. Như những làng dân sự, nhiều họ đạo thích theo những điều lệ đã có từ trước hơn là theo luật của hàng giáo phẩm. Mặt khác, các cha sở thường ít tỏ ra dân chủ hoặc ít để ý tới nhiệm vụ. Chúng tôi xin nêu vài trường hợp lịch sử:

Bầu cử nghiêm chỉnh ở họ đạo Tân Quy: Được thực hiện theo như điều lệ: "Với một ngàn giáo dân, Tân Quy được kể là một trong những họ đạo lớn của giáo phận. Nhưng khi cha André Diên làm cha sở, ngài tổ chức những cuộc bầu cử các chức việc giữa giáo dân để có những người đáng tin cậy giúp trông coi linh hồn giáo hữu, và làm phát triển công việc ở họ đạo. Đúng theo luật, thì họ đạo Tân Quy phải có một ông trùm cả, hai ông câu và nhiều chức việc khác. Lần này cha Diên muốn chọn lựa một ông trùm cả và hai ông câu, nhưng làm sao để chọn được một cách thực dụng và hợp lý ? Thường thì có ba cách thức: - bề trên tùy ý chỉ định, - đề cử người đã làm việc lâu năm - hoặc tổ chức cuộc bầu cử. Cha Diên và các chức việc cùng toàn thể giáo dân đã lựa cách bầu cử. Thế là buổi chiều ngày 21 tháng 7 năm 1932 tại phòng hội, dưới sự chủ tọa của cha chính địa phận, với sự hiện diện của cha hạt trưởng, họ đạo Tân Quy đã bầu ra một ông trùm cả và hai ông câu. Cuộc bầu chức trùm cả đã gây sôn sao ngay ở vòng đầu: người này không được 2/3 số phiếu và cha chính giáo phận đã tuyên bố phải bầu lại lần thứ hai. lần sau này ông trùm cả đạt được đa số phiếu (63).

Cảnh cáo các cha sở lạm 'quyền chỉ định': Là những cha sở tự quyền chỉ định các chức việc.Cuốn Chỉ Nam giáo phận Hà Nội đã nhấn mạnh: "Tất cả những chức việc được bầu ra bởi cuộc đầu phiếu, phải được chọn trong số những người lớn tuổi nhất ở họ đạo, chứ không do cha xứ chỉ định độc đoán" (64). Tế nhị hơn, Chỉ Nam giáo phận Huế và giáo phận Quy Nhơn nhắc nhở các cha sở: "Đề cử bất cứ ứng viên nào qua lá phiếu đều làm cho họ trở thành đại diện cho giáo dân trong hội đồng chức việc, chứ không phải là người nhận chỉ thị của cha sở " (65).

Cảnh cáo các cha sở không để ý bổn phận: Trái với trường hợp trên, có những cha sở để mặc giáo dân tự lo cuộc bầu cử. Với các cha sở này, đức cha Marcou giám mục ở Phát Diệm đã nhắc nhở: "Việc chọn những người đứng đầu hay phụ tá của họ đạo là việc rất quan trọng, các cha sở không nên coi thường, đừng để mặc cho giáo dân tự do, muốn tổ chức cuộc bầu như thế nào cũng được. Làm thế sẽ xảy ra sự thiệt hại lớn cho tất cả và gay tai tiếng cho đạo giáo" (66).

Sau hết, chúng tôi có thể chấm dứt nói về việc bầu cử các chức việc bằng lời sau của cha Cadière: "Chọn lựa các chức việc ở họ đạo là việc rắc rối và khó khăn. Do đó ở một giáo xứ lớn hay ở một họ đạo nhỏ, việc chọn lựa chức việc phải được quan tâm tối đa, mới tạo được sự hợp tác toàn hảo giữa những giáo dân với cha sở" (67)

f) Bổn phận của chức việc hay quí chức.

Cha Cadière rất có lý khi ngài đề nghị gọi "Hội Đồng Quí Chức" là "Ban Chức Việc", bởi lẽ 'danh xưng này vừa rất đẹp, vừa rất cụ thể': Từ 'Chức' có nghĩa là 'danh dự', 'chức vụ', 'tước vị', 'thế giá'; từ 'việc' có nghĩa 'trách nhiệm', là 'hành động', là 'làm việc', 'công việc', 'bổn phận', 'đòi buộc'. Như vậy các chức việc (quí chức) của họ đạo là những người có trách nhiệm trong các công việc, xây đắp cho họ đạo. Đó là bổn phận của họ (68). Chúng tôi sẽ nói rõ về điểm này trong những chương kế tiếp, ở đây chúng tôi chỉ nêu ra vài nét chính.

Nhìn tổng quát:
Đối với cha sở: Tùy theo những hoàn cảnh và nhu cầu của mỗi họ đạo, các chức việc đảm nhận là trung gian giữa cha sở và giáo dân trong lễ cưới, rửa tội, thăm viếng người bệnh, tang lễ... Các chức việc là những người hợp tác chín chắn của cha sở; tùy từng trường hợp, họ có thể thay thế cha trong những việc đặc biệt. Bởi thế họ luôn tùy thuộc cha sở, họ phải tôn kính, vâng lời, phục tùng và giúp đỡ ngài.

Đối với giáo dân: các chức việc phải là gương mẫu cho tất cả giáo dân noi theo; họ phải lo cho giáo dân tuân giữ luật Chúa và Giáo Hội, đặc biệt ở họ đạo không có cha sở, lo cho các em nhỏ học kinh bổn đầy đủ. Họ giữ trật tự trong nhà thờ và giữa họ đạo. Họ quản lý tài chánh của họ đạo với sự đồng ý của cha sở.

Đối với lương dân: Ngay từ đầu, các chức việc cần phải cố gắng làm gương mẫu, dùng lời nói việc làm đưa lương dân về với Chúa… Sự cộng tác của họ với cha sở không chỉ giới hạn về hành chính của họ đạo mà còn đến cả việc rao giảng Phúc Âm.

Như thế, bổn phận của chức việc là tham gia tích cực vào thừa tác vụ linh mục dưới mọi hình tức phục vụ, thiêng liêng hay vật chất. Chúng tôi sẽ giới thiệu việc tham gia đăc biệt của họ trong thừa tác vụ thánh hóa, giáo dục, và trông coi họ đạo của linh mục.

Nhìn riêng từng chức việc.
Ông chánh trương hay ông trùm cả: Là người tùng phục cha sở, đứng đầu họ đạo, phải phối hợp công việc với các chức việc khác cũng như mọi giáo dân của họ đạo. Ông chủ tọa những buổi họp của hội đồng chức việc khi cha sở vắng mặt. Ông đại diện cha sở, các chức việc, và toàn thể họ lẻ, ông cũng chủ tọa những buổi cầu nguyện của giáo dân.

Ông phó trương hay ông câu: Phụ tá của chánh trương hay ông trùm, không có chức vụ đặc biệt. Ông hợp tác với ông chánh trương hay ông ông trùm, trông chừng cho mọi công việc của họ đạo được trôi chảy.

Thư ký: Lập và giữ các biên bản cho họ đạo.

Thủ quỹ hay thủ quản: Dưới quyền cha sở, trông coi động sản và bất động sản của họ đạo. Đây là thành viên quan trọng của Hội Đồng Quí Chức. Chúng ta sẽ nói rõ hơn ở chương VI.

Tuần kiểm: Người giữ an ninh, lo trật tự trong họ đạo, ông quan sát và báo cáo với người có thẩm quyền

Trùm họ: Là người đại diện cho cha sở và chánh trương hay trùm cả ở một họ lẻ hay một họ nhánh. Ông cũng đại diện cho cha sở và cho họ đạo của ông trong Hội Đồng Chức Việc. Ông đứng đầu họ đạo của ông. Tất cả những tài liệu liên quan đến Hội Đồng Chức Việc đều nói rõ vai trò và những công việc của ông. Trong thời cấm đạo và ngay những năm gần đây, để đơn giản hóa cách tổ chức các chức việc, người ta đã bỏ không lập các chức chánh phó trương hay trùm cả, ông câu, nhưng chưa bao giờ bãi bỏ chức vụ và công việc của trùm họ. Tất cả những điều này cho phép chúng ta không ngần ngại nói rằng: trong Hội Đồng Quí Chức hay Hội Đồng Chức Việc, chánh trương hay trùm cả là chức vụ danh dự nhất, nhưng người trùm gánh vác nhiều việc nhất. Vì thế không ai ngạc nhiên khi thấy chúng tôi nhắc đến ông trùm họ nhiều hơn là ông chánh trương hay ông trùm cả của giáo xứ.

Nam nữ quản giáo: là những người trách nhiệm các hội đoàn, nhất là dạy dỗ các trẻ em, dạy giáo lý và kinh nguyện, cũng như giữ trật tự trong nhà thờ.

Trưởng xóm, biện phái hay ông giáp: là phụ tá của người trùm.

g) Quyền lợi của chức việc hay quí chức.

Các chức việc có rất nhiều quyền lợi về tinh thần đi đôi với bổn phận của họ: Họ được giáo dân tôn trọng và nghe lời, họ có bằng cấp đức giám mục ban. Mỗi khi đọc kinh hay có nghi lễ ở nhà thờ, các chức việc được sắp theo thứ tự ngôi vị ở hàng ghế đầu, rao lịch phụng vụ; họ cũng đảm nhận đọc thông báo, đọc sách thánh, xướng kinh, điều động công việc ở họ lẻ và họ đạo, giữ sổ sách, thu xếp, xử lý những tranh chấp giữa các giáo dân. Hàng năm họ có buổi tĩnh tâm do cha sở hay đức giám mục tổ chức. Khi một chức việc qua đời, họ đạo xin một, hai hay ba lễ cho họ, tùy theo phẩm trật họ đảm nhiệm.

Như chúng ta đã thấy, các chức việc không hưởng quyền lợi nào về vật chất. Thực tế và những điều luật chính thức đã xác nhận. Nhưng thường vì quý trọng, nên có những quyền hạn về mặt thiêng liêng làm tăng thêm phẩm cách cho chức việc. Điều 3 đoạn thứ nhứt trong cuốn Chức Sở Mục Lệ, in năm 1884, của đức cha Colombert, cho chúng ta thấy: "Tuy các chức việc của họ đạo không hưởng quyền lợi nào về vật chất, nhưng tầm quan trọng về thiêng liêng còn cao trọng hơn tất cả tước vị của thế gian. Các chức việc luôn phải coi bổn phận của họ dưới ánh sáng đức tin và chấp nhận giá trị danh vị của mình. Người nào nhìn công việc bằng cặp mắt người đời thì không thể biết sự cao quý và do đó không xứng đáng với chức vụ. Không phải bất cứ ai đều được kêu gọi để đảm nhiệm công việc, nhưng chỉ có những người được Chúa ban cho hiểu biết, có tâm tình nồng nhiệt và cảm phục tất cả mọi khía cạnh của công việc mình làm. Những ai được mời gọi đảm nhiệm công việc cao quý này cũng đừng coi thường những chức vụ hay ông việc ngoài đời, vì chính Chúa an bài mọi sự, như có lời Thánh Kinh: "Mọi việc có đều do Chúa xếp đặt" (Tv 15,5; Tl 2,24-26) (69).

4) Giáo dân.

Dựa vào số người ghi danh trong sổ nhân danh của họ đạo. Ngay từ ngày được Rủa Tội, mỗi giáo dân được chính thức ghi tên vào trong sổ này. Mỗi người phải thực sự hội nhập vào họ đạo ít nhất 7 năm và chỉ được bầu hội đồng chức việc khi đủ 18 tuổi. Ngoài ra, như trong một ngôi làng dân sự, ở họ đạo và họ lẻ, giáo dân chia làm 3 hạng, tùy theo nam, nữ và tuổi tác: mỗi giới được tổ chức rõ ràng, sau hàng các chức việc:

a) Giới cao niên.

Các lão ông hay những người nam cao niên: Không phải là một cấp bậc, nhưng là lớp người từ 60 tuổi trở lên. Họ chiếm một chỗ danh dự trong những buổi họp giáo xứ hay họ đạo. Họ được mễn việc nặng nhọc (miễn dịch), trừ trong những trường hợp như cha Cadière ghi lại: "Khi tất cả mọi người bị động viên làm việc chung trong họ, những người cao niên này cũng có mặt. Họ đến với lưỡi liềm lớn trong tay, ý thức sự lớn tuổi của mình. Họ được dành cho những công việc nhẹ: như phát quang một bụi rậm làm cản trở những người làm việc, chặt một khúc tre làm giây buộc, bện những sợi dây mây để làm giỏ đựng…" (70).

Các lão bà hay những bà trọng tuổi, từ 50 tuổi trở lên, được chú tâm riêng vào đời sống tôn giáo và những hoạt động từ thiện của họ đạo. Vì thế, chúng tôi nghĩ: "Không thể nói rằng giới nữ không đáng kể trong tổ chức những họ đạo Việt Nam" (71). Chức vụ các bà quản và những bà giúp rửa tội ở mỗi họ đạo đã chứng minh điều này.

b) Giới tráng niên.

Lớp trung niên: từ 31 đến 60 tuổi và những thanh niên từ 18 đến 30 tuổi là hai nhóm hoạt động nhất của giáo dân, chu toàn mọi việc nặng nhọc trong họ đạo. Cha Cadière gọi họ là 'những người lao động' (72).

Những tráng nữ: Các thanh nữ tuy phục vụ ít hơn phái nam nhưng cũng là những thành phần tích cực của họ đạo. Đặc biệt họ tham dự sốt sáng trong các nghi lễ phụng vụ.

c) Giới trẻ:

Gồm thiếu niên và thiếu nữ từ 12 đến 18 tuổi, lớp trẻ hơn là nhi nam, nhi nữ từ 7 đến 12 tuổi. Các em thay phiên nhau giữ việc đọc kinh và hát trong ca đoàn ở nhà thờ.

Việc tổ chức các giáo dân thành từng lớp, hay nhóm hoặc đoàn nhằm phát triển, nâng đỡ cùng nhau sống đức tin trong họ đạo, thí dụ như: những cuộc thi giáo lý. Hơn nữa, nhiều giáo dân gia nhập hội đoàn hay phong trào mang sắc thái tôn giáo hoặc xã hội mà chúng tôi sẽ nói tới sau.

V. Đời sống của họ đạo

1) Đời sống đạo

Tại Việt Nam, cho tới nay, rất ít giáo dân không giữ đạo. Một khi đã vào đạo, người ta quyết tâm sống đạo. Dưới đây, chúng tôi nói đến sự cầu nguyện ở nhà thờ, trong gia đình và đời sống thánh hóa của giáo dân Việt Nam.

a) Cầu nguyện tập thể ở nhà thờ

Ở họ đạo, dù có mặt linh mục hay không, giáo dân luôn hợp thành như 'một cộng đồng tôn giáo' với những giờ cầu nguyện chính yếu trong ngày (73). Cuốn Chỉ Nam của giáo phận Huế và giáo phận Quy Nhơn ấn định rõ ràng về "Những bổn phận của giáo dân trong họ đạo". Đặc biệt về đời sống thiêng liêng của giáo dân hai cuốn Chỉ Nam đều ghi: "Giáo dân ở họ đạo không giữ đạo riêng rẽ một mình, nhưng công khai và chung với nguời khác: vào ngày chúa nhật và ngày lễ lớn, họ cùng nhau dâng lễ, cùng nhau đọc kinh ban sáng, ban chiều, có khi cả ban trưa. Mỗi ngày trong tuần, cả họ đến nhà thờ đọc kinh chung sáng, tối Kinh nguyện thay đổi:

1) Theo mùa phụng vụ: mùa Giáng Sinh, mùa Chay, tháng Mân Côi, tháng Kính thánh Giuse, tháng kính Đức Mẹ, tháng Thánh Tâm, tháng các Linh Hồn.
2) Theo ngày trong tuần: thứ hai, cầu cho người qua đời; thứ ba kính thánh Antôn; thứ tư kính thánh Giuse, thứ năm kính Chúa Giêsu Thánh Thể; thứ sáu kính Sự Thương khó Chúa Giêsu, đi đàng Thánh Giá; thứ bảy tôn kính Đức Mẹ.
3) Nếu trong họ có người qua đời, cả họ dành nhiều ngày đặc biệt cầu cho linh hồn người quá cố v.v… (74).

Cha Louvet viết: "Từ 5 giờ sáng, tiếng trống vang dội mời gọi từ trẻ đến già tới nhà thờ hay nhà nguyện. Mọi người mau thức giấc làm dấu thánh giá và bước ra khỏi giường… đi đến nhà thờ, mỗi cử chỉ hầu như là tự động. Trong nhà thờ, trẻ em được đặt ngồi phía trước, bên cạnh các ông quản bà quản, vừa xem chừng các em, vừa xướng kinh. Mọi người mở đầu bằng kinh Truyền Tin, chia làm hai bè, nam nữ riêng biệt, tiếp theo là kinh cầu Chúa Thánh Thần, để biểu lộ đức tin, lòng cậy trông và lòng mến Chúa, rồi những kinh cầu. Ngày chủ nhật, còn có giờ học 'giáo lý hỏi thưa'. Khi có linh mục đến thăm họ đạo, toàn thể mọi người đều dự lễ, nghe giảng và hầu như tất cả đều rước lễ. Nơi có linh mục cư ngụ, nhiều người rước lễ hàng ngày. Và không ai quên đọc kinh cám ơn chung.

Buổi chiều, lại nổi hồi trống khác, đó giờ giáo lý cho các em hay tân tòng. Và một hồi trống nữa báo hiệu giờ kinh chiều, những ai có thì giờ hay ở gần nhà thờ, đều tụ họp lại để cầu nguyện. Tùy theo phiên, một chức việc chủ tọa buổi kinh nguyện. Cùng với ông, các cô thanh nữ thay phiên nhau thưa kinh với cộng đoàn mỗi tuần (76). Giáo dân đến đọc kinh đông hay ít tùy theo ngày: nếu trời mưa thì không đông lắm; ngày chủ nhật có chầu Thánh Thể, nhà thờ luôn đầy người".

b) Cầu nguyện trong gia đình

Khi người ta không thể đến cầu nguyện chung với mọi người ở nhà thờ, thì cầu nguyện trong gia đình với sự hướng dẫn của ông bố hay bà mẹ. Tất cả gia đình đều quỳ trước bàn thờ mà mỗi gia đình công giáo đều có. Cha Louvet cho chúng ta biết cảm tưởng của ngài: Thật là một khung cảnh tuyệt vời, làm tôi rất cảm động khi đến nhận việc, mỗi khi chiều xuống, lúc đi dạo trong một ngôi làng công giáo: giữa thinh lặng của ban đêm, tai nghe trổi lên ở mỗi nhà một điệu ngân nga, chậm rãi và hơi buồn; đó là lời kinh cầu của người Việt Nam, của từng gia đình ở họ đạo dâng lên tòa Chúa, cầu xin ơn trên ban xuống cho cả họ và gia đình. Buổi sáng, vào lúc hừng đông, lời cầu kinh sốt sáng lại bắt đầu, có nhiều khi, những người ngoại đạo chèo thuyền dọc theo một họ đạo, đã ngạc nhiên và xúc động khi nghe thấy một nhịp điệu rất mới đối với họ, những lời kinh mà họ được nghe lần đầu tiên, là tiếng kêu xin huyền bi đánh động nhiều người và làm cho họ trở về trong nôi của vị chủ chiên" (77).

Và đây là một nhận xét khác của cha Girod, cha viết "Nhiều lần trong đêm, khi đi qua những ngôi làng để đến thăm người bệnh, thử hỏi người truyền giáo nào mà không cảm thấy được an ủi, cảm hóa và thêm sức mạnh khi nghe một gia đình nghèo nàn, chen chúc trong mái lều tối tăm, cùng nhau cầu xin Cha trên trời ban cho lương thực hàng ngày" (78).

Cũng cần nói thêm rằng: Các giám mục rất quan tâm đến việc cầu nguyện trong các gia đình công giáo: Các ngài khuyến khích các gia đình nên trung thành với tục lệ sùng kính này, đồng thời, đưa ra những hình thức đơn sơ và thực tế cho việc cầu nguyện trong gia đình, là nên đọc hàng ngày và đừng làm ai chán nản. Chúng tôi hân hạnh trình bày một văn bản trích trong thư chung của đức cha Victoire Charles Quinton:

"Anh em thân mến, ngày trước cha ông anh em thích đọc kinh chung với nhau trong gia đình và xem đó là bổn phận thiết yếu cho từng thành phần của một gia đình công giáo, sống đạo theo đúng nghĩa; như trong thời kỳ cấm đạo, người công giáo không bao giờ bỏ đọc kinh sáng, tối, và với sự kiên trì họ luôn giữ được thói quen tốt lành đó cho tới lúc chấm dứt việc cấm đạo…

Thời nay, không còn bị sợ hãi như ngày trước, nhưng tiếc thay, thói tốt lành này mỗi ngày một kém đi. Rất nhiều gia đình công giáo không còn đọc kinh chung ở nhà, Vì vậy, chúng tôi tha thiết kêu gọi anh em hãy đọc kinh chung sáng, tối trong gia đình…

Có nhiều gia đình đọc kinh quá lâu: lúc đầu đọc thích thú và vui vẻ, nhưng dần dần đi đến lúc không còn đọc được với sự sốt sáng mà còn cảm thấy chán ngán, xem việc đạo như một gánh nặng, và như thế người ta bỏ việc đọc kinh sáng, tối. Ít đọc kinh vì không đủ khả năng của mình, hay dành ít thì giờ đọc, nhưng đọc với sự nhiệt tình phải có, cần nhất là đọc hàng ngày không bỏ ngày nào, còn hơn là muốn đọc nhiều rồi sau đó chán nản không muốn đọc nữa hay tiếp tục đọc nhiều nhưng vội vàng, không để ý, tâm trí lơ đễnh bởi những ý nghĩ chu du…" (79)

c) Đời sống bí tích

Cầu nguyện giúp thánh hóa đời sống. Qua hai văn kiện khác nhau, cha Cadière cho chúng ta thấy đời sống bí tích của giáo dân Việt Nam như thế nào. Ngài viết: "Hàng năm vào lễ thánh Phêrô và Phaolô, các chức việc họp lại tính sổ thiêng liêng của họ đạo xem đã có bao nhiêu giáo dân chu toàn bổn phận mùa Phục Sinh bao nhiêu người không làm…Tôi cần nói thêm như ở họ đạo Di Loan có khoảng 2.500 giáo dân, số người bê trễ chỉ đếm không đầy năm ngón tay" (80)

Chỗ khác cha viết: "Tại Huế có 341 họ đạo. Họ lớn nhất được 2.811 giáo dân, nhiều họ chỉ có vài chục gia đình. Trong số các họ đạo, có những họ sốt sáng hơn họ khác. Nhưng tôi phải nói rằng tất cả giáo dân đều giữ đạo: Tính số các bí tích trong năm 1909-1910, tôi ghi nhận, số giáo dân tổng quát là 42.489 giáo dân, trong mùa Phục Sinh có 26.814 người xưng tội và 25.267 người rước lễ, và chỉ có 672 người không xưng tội. Trong họ đạo của tôi, chỉ có ba người vì những lý do riêng, không thể giữ luật mùa Phục Sinh, so với 680 người xưng tội" (81).

2) Những nơi sinh hoạt chính

a) Nhà thờ hay nhà nguyện

Ngôi chùa là trung tâm của một làng truyền thống, nhà thờ cũng vậy đối với một họ đạo. Đó là nơi riêng biểu lộ đời sống tôn giáo. Một họ đạo không thể thành hình nếu thiếu nhà thờ hay nhà nguyện. Vì lý do này trong lịch sử cấm đạo, để tiêu diệt một cộng đoàn công giáo, trước tiên kẻ thù của đức tin phải phá hủy nhà thờ hay nhà nguyện. Trái lại, một trong những việc chính để lập họ đạo mới là xây ngôi nhà thờ hay nhà nguyện.

Để đánh dấu sự tiến bộ lớn của việc truyền giáo, trong bản tường trình gửi đến cha giám tỉnh năm 1645-1646, cha Jean Gâbal dòng Tên đã ghi số 24.000 người rửa tội, 200 nhà thờ chưa kể số nhà thờ nhỏ và nhà nguyện. Gần cạnh nhà thờ hay nhà nguyện, có một ngôi nhà khang trang dùng làm chỗ cư ngụ cho linh mục (82).

Và cũng theo cha Marini, cha phó duy nhất ở miền Bắc, vào năm 1657 đã có 414 nhà thờ. Những nhà thờ này không được xây đẹp đẽ bằng đá cẩm thạch như những nhà thờ ở Âu Châu, mà chỉ làm bằng gỗ, sơ sài theo kiểu Việt Nam, nhưng sạch sẽ và thích hợp cho việc thờ phượng. Những vùng có nhiều nhà thờ là: Hà Nội, với 4 nhà thờ ở thành phố và 12 ở ngoại ô; Nghệ An có 112 nhà thờ; Thanh Hóa với 74 nhà thờ và nhà nguyện (82). Vào năm 1884, đã có 622 nhà thờ hay nhà nguyện trong bốn giáo phận ở miền Nam (84)

Tất cả sự kiện trên cho chúng ta hiểu dễ dàng những công việc đòi hỏi các giám mục cố sức thực hiện sau thời cấm đạo. Cha L. Louvet viết: "Công tác chính trong những năm sau này là xây dựng nhà thờ, trường học và nhà cha sở ngụ. Cùng với những nhà thờ chính, lòng sùng đạo của giáo dân, hợp với sự hăng hái của vị truyền giáo đã gây dựng được nhiều nhà nguyện nhỏ khang trang nơi những họ đạo xa xôi… (85) Hơn nữa, hầu hết các cuốn Chỉ Nam giáo phận đều nhấn mạnh đến việc xây cất nhà thờ và nhà nguyện (86). Đặc biệt, cuốn Chỉ Nam của giáo phận Hà Nội khuyến khích các giáo dân theo khả năng của mình, ít nhất xây được một giáo đường đàng hoàng ở mỗi họ chính và một nhà nguyện thích hợp cho từng họ lẻ (87).

b) Nhà Cha sở hay nhà xứ

Ngay cạnh giáo đường hay nhà nguyện có nhà cha sở ở rồi đến trường học của giáo xứ. Đối với giáo dân Việt Nam, nơi cha ngụ là "nhà Đức Chúa Trời". Mọi người đều kính trọng và góp phần xây dựng. Những câu sau đây ghi lại vài nét của một ngôi nhà cha ở Việt Nam: "Mỗi họ lẻ đều có một ngôi nhà rộng gọi là nhà cha hay nhà 'Đức Chúa Trời', nghĩa là nhà ở cho các linh mục và các thầy giảng. Thường thường ngôi nhà bao bọc bởi rặng tre, có ao và mảnh vườn nhỏ, cũng có vài mẫu đất để trồng trọt. ở mỗi họ lẻ, cha sở và cha phó, nếu có, nuôi khoảng từ hai đến ba chục người trẻ trong nhà xứ. Người này làm việc nhà và trông coi việc trồng trọt ngoài vườn, ngoài ruộng, việc tiếp khách, người khác là giáo lý viên hay giúp cha dạy học cho các em nhỏ, và trong các việc mục vụ khác" (88)

Giáo dân Việt Nam rất thích lui tới nhà xứ Quy chế giáo phận ở Sài Gòn nhắc nhở các linh mục: "Đây là tục lệ ở miền Nam, nhà các cha phải luôn mở cho giáo dân hay những người muốn tới, hoặc để hỏi han công việc hay muốn gặp và nói chuyện với cha, họ đạo là một gia đình và nhà cha ở dù là người Âu hay người Việt vẫn luôn duy trì truyền thống này. Cha sở lúc nào cũng tiếp đãi ân cần các khách đến thăm. Ngài để ý đến công việc, chia sẻ niềm vui cũng như an ủi khi họ đau khổ. Nhiều lúc vì bận rộn, ngài bắt buộc thâu ngắn buổi gặp gỡ, và tiễn khách ra cửa một cách lịch sự; nhã nhặn, đối với mọi nguời cha như một người cha, đúng nghĩa với danh xưng, người ta đến gặp ngài dễ dàng, với hết tâm tình, và không khi nào không có một lời khuyên nhủ của ngài lúc ra về...(89)

c) Trường của họ đạo

Sau nơi các cha ở, trường nhà xứ là nơi tất cả các giáo dân để ý tới. Hơn nữa, ở nhiều họ đạo, không có nhà cha ở, thì sau nhà nguyện là tới trường học. Trường học cũng là nhà hội của các chức việc, lớp dạy giáo lý, nơi sinh hoạt của các nhóm và các hội đoàn. Trường học không chỉ dành riêng cho các em đạo công giáo nhưng cũng cho trẻ em ngoại đạo. Nhiều khi số các em này còn đông hơn các em có đạo. Cha Louvet đã có lý khi ngài viết: "Vấn đề trường học được đặt ra ngay sau khi có nhà thờ và nói đúng hơn, hai việc này không thể tách rời nhau, vì nhất là ở những họ đạo mới thành lập, chúng ta xem trường học cũng cần có như là nhà thờ, để bảo đảm việc dạy đạo Chúa cho các em…(90). Đức cha Depierre đã có cùng ý nghĩ khi ngài tuyên bố: "Cạnh nhà thờ là trường học, đạo Công Giáo không bao giờ chống lại việc giáo dục" (91)

3) Những lễ đạo

Trừ những lễ dân tộc như chúng ta đã thấy khi nói đến đời sống của một làng truyền thống, các họ đạo còn có những lễ của đạo Công Giáo như:

Những ngày chủ nhật và ngày lễ theo luật buộc (lễ Giáng Sinh, lễ Thăng Thiên, lễ Đức Mẹ Lên Trời, lễ Các Thánh) giáo dân bắt buộc dự lễ và kiêng việc xác. Ngoại trừ trường hợp đặc biệt, tất cả đều đến nhà thờ (92). Và cả những ngày ấn định họp các hội đoàn công giáo, hội đồng chức việc, hay những sinh hoạt đoàn thể. Những buổi thi giáo lý thường được tổ chức vào lễ Phục Sinh hay lễ Các Thánh (93).

Các lễ quan thầy, cầu cho các linh hồn ở luyện tội và ngày đầu năm cũng là những lễ quan trọng của họ đạo. Mọi việc đều tạm ngưng. Các tín hữu tới tòa giải tội, tụ họp dự lễ trọng thể và cầu nguyện rất lâu. Tóm lại, mỗi ngày đều có những lễ nghi đặc biệt, thí dụ như: "viếng nghĩa trang, giờ thánh" v.v.

Đời sống đạo ở họ đạo còn được đánh dấu bởi những buổi rước công cộng như rước Thánh Thể, kiệu Đức Mẹ trong ngày lễ Đức Mẹ lên trời hoặc mổi chủ nhật đầu tháng (94). Sau cùng, vào những ngày lễ, người ta còn tổ chức những bữa tiệc, những trò chơi dân gian như trong một làng dân sự.

4) Tinh thần đoàn kết.

Chính nhờ sự tổ chức tốt đẹp và cấu trúc chặt chẽ mà các họ đạo Việt Nam đã trở thành những thân thể sống động, vững chắc và gắn bó với nhau. Giáo dân Việt Nam đã thể hiện được sự hợp nhất của bí tích Rửa Tội và Đức Tin. Chúng tôi muốn nói đến sự đoàn kết của giáo dân trong cùng họ đạo ở những trường hợp cụ thể như sau:

a) Bởi đức tin và bác ái

Sự đoàn kết của giáo dân Việt Nam được biểu lộ trước hết bởi lòng thương yêu bác ái, đến từ ý hướng liên kết trong hội đoàn Việt Nam, đặt vào niềm tin của người công giáo, thúc đẩy tất cả mọi thành phần của họ đạo đối xử với nhau như anh em, khuyến khích nhau sống vững đức tin. Hơn cả người Việt Nam trong một làng dân sự, giáo dân đều tự nguyện tuân giữ luật lệ của họ đạo, chỉ thị của cha sở và của các chức việc. Họ nghe theo các chức việc trong những công vụ mang lại lợi ích cho họ đạo hay Giáo Hội. Trước khi đưa ra một câu chuyện có thực, cha Louvet đã công nhận rằng: "Giáo dân kính trọng và tuân phục những quyết định của các chức việc" (95) Và cha kể lại:" Năm 1787, Nhạc, anh lớn của nhà Tây Sơn, đã ra một chỉ dụ, trong đó ông đã khôn khéo đòi các lý trưởng lập sổ nhân danh ghi tên tuổi giáo dân. Phần lớn giáo dân cho tiền các quan chức ngoại đạo để họ ghi thiếu sót hầu tránh chính quyền làm phiền nhiễu. Nhưng ở Lái Thiêu, ông trùm là người đầy hăng hái và có đức tin mạnh, đã tụ họp các giáo dân tại nhà của ông và trình bày với họ rất hùng hồn đến độ tất cả cùng lấy quyết định đi gặp lý trưởng. Thế rồi đàn ông, đàn bà, người già, thanh nam thiếu nữ, các bà mẹ bồng bế con cái, đến khẩn nài để được ghi tên vào danh sách những người bị xử. Họ tuyên bố sung sướng vì không bỏ qua dịp tốt được chịu áp bức vì đạo Chúa. Người ta ghi lại có hơn ba trăm người. Và sau đó, những người này bị đánh thuế mỗi người 5 kg đồng. Những người nghèo không thể trả nổi, nhưng người khá giả hơn đã bán những gì mình có để giúp anh em" (96) Giáo dân Việt Nam rất quý trọng những gì gọi là "danh dự của họ đạo".

b) Bởi tinh thần tin cậy trong sự hợp tác

Sự đoàn kết của họ đạo Việt Nam còn biểu lộ trong tinh thần hợp tác hoàn tất công việc chung. Không chỉ riêng những chức việc, mà tất cả giáo dân cũng rất đoàn kết vào việc xây dựng họ đạo của mình. Đó là niềm an ủi và khích lệ cho các linh mục được sự hợp tác của giáo dân. Sau nhiều năm làm cha sở, cha Cadière đã có lý khi viết như sau: "Chúng tôi sung sướng được sự hợp tác tích cực của giáo dân, họ tin tưởng và vâng phục các linh mục. Và đây là sự hợp tác liên tục mỗi ngày, mỗi lúc, sự hợp tác của toàn thể trong tất cả mọi công việc của họ đạo. Tóm lại, sự hợp tác của toàn thể luân phiên nhau làm chuyển động mọi thành phần của họ đạo" (97).

Để đưa ra một điểm cụ thể, cha viết tiếp ở trang khác:" Tôi thấy trong những họ đạo tôi đã quản nhiệm, với sự giúp sức của giáo dân Tam Tòa, tôi làm lại mái nhà thờ của họ; giáo dân Cự Lạc giúp tôi xây nhà thờ của họ đạo; ở Bố Khê họ giúp tôi xây nhà thờ và nhà cha sở; ở Cổ Vưu, họ giúp tôi xây nhà thờ và một phần nhà xứ; ở Di Loan cùng với giáo dân tôi đã hoàn tất ngôi nhà thờ đẹp đẽ, sửa lại nhà xứ, trường học, nhà hội; ở Hòa Ninh cũng cùng với giáo dân tôi hoàn thành nhà thờ của họ đạo và xây được trường học ở Loan Lý…". Sau cùng, cha kết luận:"Trong giáo phận Huế và ở khắp Đông Dương công việc đều như thế" (98)

c) Sự đoàn kết ngoài họ đạo

Không chỉ với những giáo dân cùng trong một họ đạo, sự kết hợp này còn lan rộng ra đối với những họ đạo khác, đồng chủng tộc hay khác nòi giống. Đây là cảm tưởng của cha Courtelin khi nói đến hội từ thiện đầu tiên trong họ đạo của cha: "Giáo dân Việt Nam tuy nghèo nhưng rộng rãi. Họ hết lòng đóng góp tiền của hay hiện vật cho công việc xã hội, khi các Bề trên yêu cầu. Nhưng đáng kể nhất là họ đoàn kết trong tình thương yêu" (99)

Sử sách kể câu chuyện: tất cả giáo phận Sài Gòn được chiếu cố để giúp đỡ giáo phận Quy Nhơn bị thiệt hại nặng nề bởi ngập lụt năm 1924, rồi từ năm 1925, ở giáo phận Sài Gòn có phong trào xây cất lại những nhà thờ, trường học của họ đạo đã cũ, và tất cả các họ đạo khác đều tham gia hết long (100).

d) Những chia rẽ đáng tiếc

Nhưng tất cả các vụ việc trên không thể nói là luôn có sự đồng tâm và đoàn kết hoàn hảo với mọi giáo dân trong cùng họ đạo. Không phải không có lý do khi cha Bennet viết về sự ngoan cố của các giáo dân ngài trông coi (102), và cha Vignau đã có nói đến sự "chửi rủa" có nghĩa là "nguyền rủa lẫn hau với những lời độc địa nhất", giữa giáo dân, nhất là giữa phái nữ (103). Và cha Cadière, có rất nhiều kinh nghiệm mục vụ đã ngõ ý xin các cha sở quan tâm đến hiện tượng "phe phái gia đình" trong các họ đạo: có những vụ cạnh tranh, gây gổ, kiện thưa, thường xảy ra giữa dòng họ này với dòng họ khác (104).

Hơn nữa, đôi khi chuyện cãi cọ, thưa gửi trở nên bất trị trong một họ đạo: như trường hợp họ đạo Định Cát. Một vị truyền giáo thế kỷ 17 đã viết: "Phần các giáo dân ở Định Cát, họ không ngừng thưa kiện nhau, tôi phải trao họ vào sự quan phòng của Chúa" (105). Rồi năm 1955, cha Cadière đã viết: "Họ thưa kiện nhau không ngớt; linh mục đã cố gắng, bỏ ra nhiều thì giờ và sức lực để giải hòa" (106).

Chúng ta đã dượt qua cách hình thành và sinh hoạt của ngôi làng cổ truyền, và của họ đạo Việt Nam. Sự trình bày trên không thể là cách đối chiếu giữa ngôi làng và nhà thờ. Tuy nhiên, chúng tôi có thể nói rằng, được thành hình theo như cách thức của ngôi làng cổ truyền, họ đạo có một tổ chức vững chắc hơn của làng và Hội Đồng Quí Chức có cơ cấu chặt chẽ hơn tổ chức của các chức sắc trong làng. Đây là những kết quả cụ thể, mà các vị thừa sai đã hội nhập khéo léo vào các họ đạo, nhờ hiệu quả tốt đẹp của những nội quy cho chức việc và họ đạo do các giám mục đặt ra cho giáo dân. Nói như thế không phải tất cả những người công giáo Việt Nam tốt hơn những người dân ngoại, bởi vì có nhiều phật tử là những người rất ngay thẳng và sốt sắng. Chúng ta thấy nhờ ơn Chúa và giáo huấn của các cha, nhờ cách tổ chức vững chắc và nhờ ở các chức việc nhiệt tình, tận tụy và đáng mến, các họ đạo Việt Nam đã có một đời sống luân lý và đạo đức tương đối cao, theo như Thánh Kinh. Chúng ta sẽ thấy rõ khi nói đến sự tham gia của các quí chức (chức việc) vào thừa tác vụ linh mục, thừa tác vụ thánh hóa, tác vụ dạy dỗ và điều hành họ đạo.


---------------------------

Chú thích

(1) NHẤT-THANH, ĐẤT LỀ QUÊ THÓI trg 465-466 đã viết: "Triều Lê (1500-1800), người ta dùng những tên phân biệt: Trang, Động, Sách, Trại, Sở để chỉ những xóm, làng, ở tiếp giáp, hay nơi sâu thẳm trong rừng núi. Vạn là những xóm làng ở ven sông, ven biển, dân sống với nghề chài lưới; Phường là khu các nhà cùng làm một nghề ở quy tụ với nhau. Nhưng từ đời vua Minh-Mạng (1820-1830), nhà Nguyễn bỏ sự phân biệt này trong sổ sách, công văn, chỉ gọi là làng hay xã.
(2) Cf. Ory P. LA COMMUNE ANAMITE AU TONKIN trg.4-5; NGUYỄN VĂN PHONG, LA SOCIETÉ VIETNAMIENNE DE 1822-1902; trg.66-67.
(3) Danh từ dòng, phái, chỉ những gia đình mang cùng họ, con cháu cùng gốc; nói cách khác, dùng để chỉ tất cả các gia đình cùng một tên họ. Ở Việt Nam, có khoảng 40 tên họ một trong những họ nổi tiếng, có thể kể họ LÊ, NGUYỄN, VŨ, PHAN v.v… Dòng họ chỉ tính quan hệ nguồn gốc trên những người đàn ông. Ngoài ra, cũng phải nhắc đến nhiều gia đình tuy mang cùng tên họ nhưng không phải cùng gốc.
(4) Cf. ORY P. sd. trg1-5, ĐÀO DUY ANH, VIỆT NAM VĂN HÓA SỬ CƯƠNG trg 123-137; NGUYỄN HỮU GIAI, LA PERSONNALITÉ DE LA COMMUNE ANNAMITE trg 15-22; TOÀN ÁNH, LÀNG XÓM VIỆT NAM trg 30-36; NHẤT THANH sd trg 464-466.
(5) Đây là một vài chỉ dụ của nhà Nguyễn: Những chỉ dụ của vua Tự Đức năm 1785, của vua Đồng Khánh năm 1886 và 1887, vua Khải Định năm 1920 và của vua Bảo Đại năm 1935, kể theo NGUYỄN HỮU GIẢI sd. trg 21-22.
(6) Cf. NHẤT THANH sd trg 469-471.
(7) Theo NGUYỄN HỮU GIẢI, sd. trg 21, mức lợi tức thấp nhất của làng phải có: 30 người đóng thuế và 50 mẫu ruộng hay đất; Cf. NGUYỄN VĂN PHONG sd. trg 98-99.
(8) Sự phân biệt tùy theo mỗi làng. Chúng ta còn thấy tài liệu khác, thí dụ, của NGUYỄN VĂN GIẢI sd. tr.45-46: bình quyền dân sự là một điều, nhưng luật lệ xã hội là chuyện khác. Vì vậy, dân trong xã được sắp theo nhiều hàng khác biệt: những vi cấp cách dưới 18 tuổi, dân đinh là người trẻ từ 18-20 tuổi, tráng đinh đàn ông từ 20-60 tuổi, lão nhiêu người lớn tuổi trên 60 tuổi, những cô nhi, người tàn tật, quan viên, quan viên tử (con trai của quan viên), chức sắc, hương chức, bình đinh (lính), trạm (phát thư), học sinh, bá hộ (nguời giàu có), người bần cùng, kỳ cựu (ở lâu trong làng).
(9) Hương chức và chức việc có cùng nghĩa trong chức vụ. để phân biệt, chúng tôi dùng chữ Hương chức cho người có trách nhiệm ở làng và Chức việc cho những người trong họ đạo.
(10) Cf. NGUYỄN VĂN PHONG trích trg 100-101.
(11) Quyền hạn và trách nhiệm của hương chức trong làng được xác định trong chỉ dụ của vua Khải Định năm 1924 và hình luật của vua Bảo Đại năm 1935, NGUYỄN VĂN GIẢI sd. trg 61.
(12) Cf. LURO, COUR D' ADMINISTRATION ANNAMITE (in lần đầu lưu trữ các cha MEP) 1965 trg 143-145, 150. Theo NHẤT THANH s. trg 476-477 và NGUYỄN HỮU GIAI sd. trg 50: Cho đến thời vua Gia Long, gọi" xã trưởng "là người trông coi xã, đến thời Minh Mạng gọi người giữ trách nhiệm là 'Lý trưởng". Ngoài ra, theo ĐẶNG PHƯƠNG NGHI, LES INSTITUTIONS DU VIET NAM AU XVIlI SIECLE trg 87: trước năm 1735 xã trưởng được chỉ định bởi quan phủ hay quan huyện trực thuộc, đến thời Long Đức (1732) và Vĩnh Hựu (1735), dân làng được quyền chọn xã trưởng theo đa số khi làng, xã tự quản lý được.
(13) Trong nhiều làng còn những hương chức khác như: hương trưởng, làm việc với phó lý, người "tiên chỉ" người tuổi tác, tiếng tăm, giàu có và quen biết nhiều nên được coi như lớn nhất ở làng, người "thông-giảng" giảng giải chỉ dụ của triều đình cho dân làng; "thày sãi" trông coi chùa ở làng. CF. LURO sd trg 147-149; NGUYỄN VĂN PHONG sd. trg 101-102; NHẤT THANH sd. trg 478-479.
(14) ORY viết: "Theo chỉ dụ của triều đình, những phó lý và lý trưởng, không được ngưng hợp đồng làm việc trước ba năm, và hơn nữa, không dưới 30 tuổi. Hai quy chế này ít được áp dụng; vì thực tế vẫn mạnh hơn luật lệ (sd. trích trg 23). Chúng tôi không tìm ra ngày ký hai quy chế này. Nhưng chúng tôi biết vào giữa đời Cảnh Trị (1663-16720), Trịnh Tạc quyết định là, sau ba năm làm lý trưởng được lên chức Huyện nếu đã làm tốt, tròn công việc. Cũng vậy, năm 1720 (năm đầu đời Bảo Thái), Trịnh Cường quyết định các xã trưởng nếu qua hai kỳ thi tuyển (cứ ba năm tổ chức một lần) sẽ lên trật quan chức. Lệ này trở thành cũ kỹ và trung ương càng ngày càng không để ý đến hành chính của xã hay làng. ĐẶNG PHƯƠNG NGHI sd. trg 86
(15) Cf. LỊCH ANNAM THÔNG DỤNG TRONG SÁU TỈNH NAM KỲ 1873 trg 74-77.
(16) Cf. ĐÀO DUY ANH sd. trg 134
(17) Cf. ĐÀO DUY ANH sd. trg 133
(18) Hiệp định Genève ký ngày 10.07.1954 ấn định vạch đình chiến ở vĩ tuyến 17: Miền Bắc thủ đô là Hà Nội với chế độ Cộng-sản. Miền Nam thủ đô Sài Gòn chế độ Quốc-gia; Sài Gòn sụp đổ ngày 30.04.75.
(19) Cf. ORY sd. trg 57-65
(20) Chúng tôi đưa một thí dụ: "Cãi cọ, nguyền rủa không ẩu đả thì phạt nhẹ, thường các trưởng xóm tuyên phạt, từ 1-5 roi mây; nếu ẩu đả không gây thương tích, các hương chức sẽ tuyên án từ 10-20 roi. Nếu có thương tích thì phạt vạ nặng hơn và trình lên quan để xét xử" xem LURO sd. tr. 152-157.
(21) DELOUSTAL R. CODE DES LÊ ( Art. 141) trong Bull.E.F.EO.IX (1909) trg 781.
(22) Bởi thế có lệ từ thế kỷ 15 đã nói đến các vụ kiện liên quan đến việc biếu phần hay phần hưởng của những người có địa vị trong làng. Cf. RELOUSTRAL, CODE DE PROCEDUIRES (Art.1) trong Bull.E.F. EO. XIX (1919) trg 1, n.3.
(23) Nói đến sự quan trọng của ngày Tết chúng tôi xin đưa ra câu nói của PRYLUSKY: "Ngày Tết là ngày quan trọng đánh dấu thời gian và đình trệ nhịp sống mọi người" HUARD thuật lại và DURAND M. trong CONNAISSANCE DU VIETNAM, trg 78, và NGUYỄN VĂN PHONG sd.. trg 166.
(24) Cf. LG. 17 in. AAS 57 (1965) trg 21; GS 58, 62 in AAS 58 (1966) trg 1079, 1087; AG 15, 22 in AAS 58 (1966) trg 964, 973.
(25) Công nghị Cochinchine 1880, in TEYSEYRE, UN MISSIONNAIRE ALBIGEOIS EN COCHINCHINE, MGR GALIBERT phụ lục trg 342, c.6 Cf. DCO h.1 n.1 trg 3; PCI 33; DHN 104, 107, DQN 75; DH 71, 75. Ngoài ra việc phân chia theo luật của họ lẻ, có thể xem trong: CC.261, 451. Instructio Sacrae Congr. Consistorialis, I augustii 1919 in AAS II (1919) trg 345-346, Instructio Sacrae Congr.P.F. 25 julii 1920 AAS 12 (1920) trg 331-334, 9 decembris 1920 in AAS 13 (1921) trg 18-20. Sự phân chia và những khó khăn ở giáo hạt và các họ lẻ tại Việt-Nam, xem LAUNAY. A, HISTOIRE DE LA MISSION DU TONKIN, I trg 309-435; HISTOIRE DE LA MISSION DE COCHINCHINE, II tg 78-96.
(26) DQN 75.
(27) SC 10.
(28) Thí dụ, trong cuốn Chức Sở Mục Lệ, chỉ có một trang với 6 điều cho trùm cả, nhưng có tới 14 trang với 23 điều dành cho người trùm.
(29) Xem chương I số III "Các họ đạo đầu tiên" và số IV "Tổ chức các Thầy Giảng".
(30) NGUYỄN HỒNG, LỊCH SỬ TRUYỀN GIÁO Ở VIỆT NAM I, trg 167.
(31) LAUNAY A. LE TONKIN CATHOLIQUE ET MGR. RETORD (1851- 1858), Lyon 1893 trg 101-102.
(32) NKĐP (báo Nam Kỳ Địa Phận) (1917) số 454 trg 646.
(33) GIROD L. DIX ANS EN HAUT TONKIN trg 15-159
(34) NKĐP (1917) số 451 trg 597.
(35) NKĐP (1918) số 485 trg 326.
(36) NKĐP (1918) số 499 trg 550
(37) NKĐP (1922) số 696 trg 423
(38) NGUYỄN HỒ ĐỊNH, CINQUANTE ANNÉES DE CATHOLICISME DANS LA SOCIÉTÉ VIETNAMIENNE 1895-1945 trg 26.
(39) xem từ chương II. số II "Những trường hợp lịch sử".
(40) CADIÈRE, MISSION DE HUẾ, trong ASME 1911 trg 292.
(41) Những câu sau đây của cha Cadière xác nhận ý kiến chúng tôi: "Tôi lấy thí dụ ở giáo phận Huế mà tôi đã làm việc từ 10 năm nay. Những chi tiết tôi sẽ nêu ở đây (tổ chức và hoạt động của các họ đạo Việt Nam) bằng những công việc tôi làm ở trong Nam từ trước đến nay. Ở giáo phận ngoài Bắc, tổ chức hơi khác, có lớp dạy giáo lý. Dù sao, những gì tôi trình bày có thể áp dụng với vài giới hạn trong những họ đạo cổ xưa ở miền Bắc" (trong Bull. MEP(1955) số 79, trang 309.
(42) Theo tường trình năm 1937-1938 Giáo phận Hà Nội có 87 giáo xứ và 990 họ đạo, riêng họ lẻ Mường Tre có 22 họ đạo. Giáo phận Bùi Chu có 83 giáo xứ và 530 họ đạo, chỉ riêng giáo xứ Ninh Cường có 17 họ đạo…
(43) DQN 112, DH 98.
(44) DHN 107.
(45) Cf. DCO chương V trg 235-246; DQN 22-30; DHN 192-194, 211-216.
(46) Cf. DCO chương III, số III trg 208-209; DHN 95-96
(47) Cf. DCC chương III, số IV trg 212-213, DHN 56-113; DH 1-28, 46-49; DQN 1-21,48-52; PCI 53-87.
(48) Ở nhiều giáo xứ hay họ đạo cha sở còn có cha phó giúp, rồi đến những các thầy giảng và các nữ tu... Nhưng chúng ta không nói tới vì khuôn khổ của việc nghiên cứu.
(49) CSML 1-2.
(50) THƯ CHUNG ĐỊA PHẬN TÂY ĐÀNG NGOÀI II trg 119.
(51) PCI 363-364: "In regionibus nostris auxilium nobis praebere potest ad Actionem Catholicam ordinandam antiqua institutio Consilii notabilium seu priorum christianitatum. Hi priores enim jam magnum auxilium missionariis praebuerunt in administratione temporali et spirituali christianitatum, necnon utiles esse poterunt in fide conservanda apud fideles et provenda apud infideles"
(52) CSML 7,1; THƯ CHUNG ĐịA PHẬN TÂY ĐÀNG NGOÀI II. Trg 120.
(53) TDNS (1972) số 36 trg 13.
(54) GIROD, UNE TURNÉE PASTORALE DANS LE VIC. DU TONKIN. OCC
(55) CSML 10-12.
(56) CSML, in lần thứ hai 1953 số 10 trg 10.
(57) Bull. MEP (1955) số 79 trg 313.
(58) CSML Ấn định: muốn trở thành "Giáp" phải đủ 25 tuổi, "biện" khoảng 30 tuổi (7,2); Mgr P.M. Gendreau nhấn mạnh những ứng viên phải đứng tuổi, chủ tịch và phó chủ tịch ít nhất phải đủ 40 tuổi, thư ký, thủ quỹ, tuần kiểm, trùm họ ít nhất là 35 tuổi, quản giáo hay trưởng xóm là 25 tuổi. Cf. TCĐPTĐN II, trg 200.
(59) Điều kiện tuyển một ứng viên. Cf. CSML 7; QN 114; DH 99; DHN 150,153; AD tit. IV cap. III trg III; TCĐPTĐN II, trg 119-120; THƠ CHUNG ĐỊA PHẬN THANH trg 407-408.
(60) Trích LAUNAY A. HISTOIRE DE LA MISSION DE COCHIN. I trg 107.
(61) "In singulis christianibus instituentur due curatores (ông trùm chính, ông trùm tùy) ab ipsa christianitate electi et a sacerdote approbati" AD tit. IV cap. III. trg III.
(62) Để tuyển những chức việc.Cf. CSML 6-9; TCĐPTĐN II; trg 200-201; DH 100; DQN 114; DHN 150 CADIÈRE: ORGANISATION ET FONCTIONNEMENT D UE CHRETIENTE VIETNAMIENNE trong Bull. MEP (1955) số 79 trg 311-314.
(63) NKĐP(1932) số 1212 trg 485-487.
(64) DHN 153
(65) DQN 114; DH 100.
(66) Trong TCĐPT II, trg 407-408.
(67) OFCV trong Bull. MEP (1955) số 79 trg 313
(68) OFCV trong Bull. MEP (1955) số 79 trg 312
(69) CSML 3.
(70) OFCV trong Bull. MEP (1955) số 82 trg 575
(71) OFCV trong Bull. MEP (1955) số 79 trg 317
(72) OFCV trong Bull. MEP (1955) số 79 trg 316
(73) VIGNAU, LA VIE CHRETIENNE ANNAMITE trong Miss. Cath. 77 (1945) Trg 12
(74) DQN 129; DN 112.
(75) Cha Cadière cho chúng ta một thí dụ: Họ đạo Kim Long, ở gần Huế, đã có 547 người xưng tội mùa Phục sinh, 9.270 xưng tội sốt sáng và 12.973 rước lễ thường xuyên, trung bình mỗi người rước lễ khoảng 25 lần một năm. Cf. LA MISSION DE HUẾ, trong ASME (1911) trg 296-297.
(76) DHN 246.
(77) LOUVET L., LA COCHINCHINE RELIGIEUSE I trg 358-359.
(78) GOROD, RÉCITS D'UN MISSIONNAIRE trg 81.
(79) Thư mục vụ của Đức cha V.Ch. Quinton năm 1918 trong MBTC II trg 119
(80) OFCV trog Bull. MEP (1955) số 85 trg 964.
(81) LA MISSION DE HUẾ, trong ASME (1911) trg 296; Cf. Lettre de Mgr Marcou (giáo phận Phát-Diệm) trong Miss. Cath. 51 (1919) trg 521.
(82) NGUYỄN HỒNG op.cit. I trg 224.
(83) MARINI, DELLE MISSIONI DE' PADRI DELLA COMPAGNIA DI GIESU NELLA PROVINCIA DEL GIAPPONE… trg 264; Cf. PHAT PHAT HUỒN sd. I trg 82.
(84) LOUVET L. op.cit II trg 450
(85) LOUVET L. op. cit. II trg 441
(86) DQN 241-247; DH 213-220; DHN 227-234.
(87) DHN 227
(88) PIERRE, ANDRÉ RETORD, VICAIRE POSTOLIQUE DU TONKIN OCC. trong APF 25 (1853) trg 15-16
(89) DCO chương III, số III. trg 207-208
(90) LOUVET L. sd.II trg 441
(91) DEPIERRE, SITUATION DU CHRISTIANISME EN COCHINCHINE À LA FIN DU XIXè SIÈCLE trg. 36.
(92) NGUYỄN HỒNG sd. I trg 224; và nhất là thư chung của đức cha MOSARD (Mão) năm 1906: DE L'ASSISTANCE DE LA MESSE DU DIMANCHE trong MBTC, I trg 67; DQN 284-288; DH 256.
(93) DHN 132
(94) DQN 300-302; DHN 250-253; DH 261-273.
(95) LOUVET L. sd. I tr 357; NGUYỄN HỒNG sd. I trg 227
(96) LOUVET L. sd. I trg 435
(97) OFCV trong Bull. MEP (1955) số 79 trg 309
(98) OFCV trong Bull. MEP (1955) số 82 trg 574
(99) Thư cha Courtaulin gửi đức cha Lambert de la Motte ngày 30 tháng 8 năm 1675, trong LAUNAY A. HISTOIRE DE LA MISSION DE COCINCHINE I, tr.159-160.
(100) NKĐP (1925) trg 674
(101) NKĐP (1935) trg37
(102) LAUNAY A. HISTOIRE DE LA MISSION DE COCHINCHINE II. trg 193
(103) Art. cit. trong Miss. Cath. 77 (1945) trg 14-15
(104) OFCV trong Bull. MEP (1955) số 79 trg 313-315
(105) The cha Cadière, trong OFCV, Bull. MEP (1955) số 79 trg 311
(106) OFCV trong Bull. MEP (1955) số 79 trg 310

Hình chụp ngày Lễ Ngân Khánh 25 năm của hai quý chức (1924-1940) phục vụ trong Hội Đồng Quý Chức Cầu Kho, Sài Gòn.

Đạo mầu dun dủi đến công thành
Bằng điểu tung bay vui phụng sự



 
Văn Hóa
Nhạc Phẩm Hoa và Rác cuả Tuấn Kim
Tuấn Kim
10:35 25/02/2011
Nhân Mùa Chay xin hân hạnh giới thiệu nhạc phẩm Hoa và Rác của NS. Tuấn Kim, phần âm thanh do các thầy Đại Chủng Viện Xuân Lộc thực hiện. Xin bấm vào link mầu xanh để xem bản nhạc và mũi tên đen để nghe nhạc.

Nhạc Phẩm Hoa và Rác cuả Tuấn Kim